Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 5

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG NĂM

PHÂN RẼ KHỎI THẾ GIAN

Kinh Thánh: Xuất. 10:8-11, 21-26; 12:6-11, 37-42; 2 Cô. 6:17

Có nhiều mạng lịnh trong Kinh Thánh liên quan đến sự phân rẽ khỏi thế gian. Cựu Ước chứa đựng nhiều gương mẫu và sự dạy dỗ liên quan đến điều này. Chẳng hạn như Ai Cập, U-rơ thuộc xứ Canh-đê, Ba-by-lôn và Sô-đôm đều tượng trưng cho thế gian. Các địa điểm ấy nói đến những phương diện khác nhau của thế gian. Ai Cập tượng trưng cho niềm vui của thế gian, U-rơ thuộc xứ Canh-đê tượng trưng cho các tôn giáo của thế gian, tháp Ba-bên tượng trưng cho sự rối loạn của thế gian, Sô-đôm tượng trưng cho tội lỗi của thế gian. Một người nên ra khỏi Ai Cập và cũng nên ra khỏi U-rơ của xứ Canh-đê y như Áp-ra-ham. Lót đến Sô-đôm, và dân Israel rơi vào tình trạng tù đày tại Ba-by-lôn. Mọi người đều nên ra khỏi những nơi ấy. Kinh Thánh dùng bốn nơi khác nhau để tượng trưng cho thế gian và bày tỏ dân của Đức Chúa Trời ra khỏi thế gian từ những phương diện khác nhau của thế gian này như thế nào.

I. BIỂU TƯỢNG CỦA VIỆC DÂN ISRAEL RA KHỎI AI CẬP

A. Kết Quả Của Sự Cứu Chuộc Là Ra Khỏi

Đức Chúa Trời cứu dân Israel nhờ chiên con của lễ Vượt qua. Khi sứ giả của Đức Chúa Trời tiến hành việc giết các con đầu lòng tại đất Ai Cập, thiên sứ của sự chết vượt qua các cánh cửa có huyết trên đó. Nếu không có huyết trên cửa, con đầu lòng của nhà đó phải bị giết chết. Điều này không liên quan đến việc cánh cửa ấy tốt hay xấu, có gì đặc biệt trên mày cửa hay hai bên cột cửa, gia đình ấy có gì tốt không, đứa con đầu lòng ấy có hiếu kính cha mẹ không. Vấn đề là có huyết chiên con hay không. Anh em bị diệt vong hay không thì không tùy thuộc vào tình trạng của gia đình anh em hay hành vi của anh em, nhưng tùy thuộc vào việc anh em có huyết Chiên Con hay không. Yếu tố cơ bản cho sự cứu rỗi là huyết, điều này không liên quan gì đến chúng ta.

Chúng ta là những người được cứu nhờ ân điển đều đã được cứu chuộc bằng huyết. Nhưng xin nhớ rằng ngay sau khi được cứu chuộc bằng huyết, chúng ta phải di chuyển và đi ra. Đừng nghĩ rằng chúng ta có thể mua nhà và ở lại tại Ai Cập sau khi được cứu chuộc bằng huyết. Những ai đã được cứu chuộc bằng huyết phải ra đi ngay đêm ấy. Chiên con bị giết trước nửa đêm và huyết được rảy bằng chùm kinh giới. Họ ăn gấp rút, thắt đai lưng và tay cầm gậy, vì họ phải ra đi ngay lập tức.

Kết quả đầu tiên của sự cứu chuộc là phân rẽ, tức là ra đi, ra khỏi. Đức Chúa Trời không bao giờ cứu chuộc một người và cho người đó ở lại vị trí cũ để tiếp tục sống trong thế gian. Tuyệt đối không có điều như vậy. Một khi được tái sinh, được cứu, người ấy phải cầm gậy và ra khỏi. Khi thiên sứ hủy diệt đã thực hiện công tác phân rẽ người được cứu với người bị diệt vong, những người được cứu phải ra khỏi. Một khi đã được phân rẽ bởi vị thiên sứ hủy diệt, anh em phải chuẩn bị hành trang ra khỏi Ai Cập.

Gậy dùng để đi. Không ai cầm gậy để nằm trên giường. Gậy không phải là gối, gậy dùng để đi. Tất cả những ai được cứu chuộc, già hay trẻ, đều phải cầm gậy và ra khỏi ngay trong đêm ấy. Sau khi được huyết cứu chuộc, anh em trở nên một lữ khách và kiều dân trên đất, anh em phải ra khỏi Ai Cập và phân rẽ khỏi thế gian ngay lập tức. Anh em không được tiếp tục sống tại đó.

Có chị em kia dạy một lớp thiếu nhi. Lần nọ chị kể chuyện La-xa-rơ và người giàu. Chị hỏi các em: “Các em muốn làm La-xa-rơ hay người giàu? Người giàu hưởng thụ đời này và chịu khổ ở đời sau. La-xa-rơ chịu khổ ngày nay và sung sướng ở đời sau. Các em muốn chọn điều nào?” Một em gái tám tuổi đứng lên nói: “Khi còn sống, em muốn làm người giàu, nhưng khi chết, em muốn làm La-xa-rơ”. Nhiều người giống như vậy. Khi cần sự cứu rỗi, họ tin vào huyết Chiên Con; nhưng sau khi đã nhờ huyết mà được cứu, họ định cư vững chắc tại Ai Cập. Họ nghĩ họ có thể được cả hai điều tốt nhất.

Xin hãy nhớ huyết cứu chuộc cứu anh em khỏi thế gian. Một khi được huyết cứu chuộc, ngay lập tức anh em trở thành một lữ khách và kiều dân trên thế gian này. Điều ấy không có nghĩa là anh em không còn sống trên đất, mà có nghĩa là anh em phân rẽ ngay với thế gian. Bất cứ nơi nào có sự cứu chuộc, nơi đó sẽ có kết quả như vậy. Ngay khi một người được cứu chuộc, con đường của người ấy thay đổi, người ấy phải rời khỏi thế gian. Sự phân rẽ của huyết phân rẽ người sống với người chết, cũng phân rẽ con cái của Đức Chúa Trời với người thế gian. Một khi đã được cứu, chúng ta không còn có thể ở lại trong thế gian.

B. Nhiều Sự Ngăn Cản Từ Phía Pha-ra-ôn

Câu chuyện Israel ra khỏi Ai Cập cho chúng ta thấy họ khó lìa Ai Cập biết bao! Ai Cập cố gắng giữ họ lại nhiều lần. Khi dân Israel muốn lìa Ai Cập lần đầu, Pha-ra-ôn chỉ cho phép những người mạnh mẽ ra đi, con trẻ và người già phải ở lại. Pha-ra-ôn biết rằng nếu ông ta giữ con trẻ và người già ở lại, những người mạnh mẽ sẽ không thể đi xa, sau ít lâu họ sẽ trở lại. Chiến lược của Sa-tan là ngăn cản chúng ta để chúng ta đừng phân rẽ khỏi Ai Cập cách hoàn toàn. Ngay từ đầu, Môi-se đã khước từ sự lôi kéo làm trì hoãn của Pha-ra-ôn. Nếu để một vật nào hay một người nào lại đằng sau, chúng ta không thể đi quá xa. Rốt cuộc chúng ta cũng sẽ quay lại.

Anh em có thể nhớ lại những gì Pha-ra-ôn bảo Môi-se lần đầu: “Hãy đi dâng sinh tế cho Đức Chúa Trời các ngươi tại trong xứ” (Xuất. 8:25). Sau đó, ông bảo Môi-se đừng đi xa quá. Lần thứ ba, ông bảo Môi-se rằng chỉ những người mạnh mẽ mới được đi. Lần thứ tư, ông bảo Môi-se rằng mọi người đều có thể đi nhưng chiên và bò phải ở lại. Phương cách của Pha-ra-ôn là thuyết phục họ hầu việc Đức Chúa Trời tại Ai Cập. Đó là tiền đề cơ bản của ông ta. Ông ta bằng lòng cho họ làm con cái của Đức Chúa Trời miễn là họ ở lại Ai Cập. Ông ta biết nếu họ hầu việc Đức Chúa Trời tại Ai Cập, họ sẽ không có chứng cớ và cuối cùng họ sẽ phục vụ Pha-ra-ôn. Mặc dầu họ muốn làm đầy tớ của Đức Chúa Trời, cuối cùng họ sẽ đi đến tình trạng làm đầy tớ của Sa-tan.

Nếu cố gắng hầu việc Đức Chúa Trời trong thế gian, chắc chắn cuối cùng anh em sẽ làm nô lệ cho Sa-tan. Anh em sẽ phải đúc gạch cho hắn và hắn sẽ không để cho anh em ra đi. Dầu hắn có cho anh em đi chăng nữa, hắn sẽ không để anh em đi xa được bao nhiêu. Nếu hắn để cho anh em đi, có thể hắn chỉ cho phép những người mạnh mẽ ra đi mà thôi, những người khác phải ở lại. Sa-tan rất quen thuộc với những lời được chép trong Ma-thi-ơ 6:21: “Báu vật các ngươi ở đâu, thì lòng các ngươi cũng ở đó”. Báu vật và con người đi chung với nhau. Hắn biết rằng nếu Pha-ra-ôn giữ bò và chiên lại, dân Israel sẽ không đi xa lắm. Cuối cùng họ sẽ đi theo bò và chiên. Nhưng Đức Chúa Trời muốn bò và chiên đi theo họ. Ngài muốn người ta được cứu khỏi những điều [họ xem là] quí báu.

Sau khi được cứu, chúng ta phải đi vào đồng vắng. Hơn nữa, chúng ta phải đem người và tất cả báu vật của mình theo. Nếu không, cuối cùng chúng ta sẽ trở lại Ai Cập và sẽ không phân rẽ khỏi Ai Cập gì cả. Mạng lịnh của Đức Chúa Trời là những ai hầu việc Ngài phải phân rẽ khỏi thế gian.

C. Con Đường Của Chúng Ta Trong Đồng Vắng

Nếu chỉ lấy môi miệng mình xưng nhận Chúa như: “Tôi đã tin Chúa hôm nay” thì vẫn chưa đủ để có một chứng cớ. Chúng ta phải ra khỏi thế gian và phân rẽ khỏi thế gian. Điều này đưa chúng ta đi một bước xa hơn việc xưng nhận Jesus là Chúa bằng môi miệng. Chúng ta không thể làm những Cơ Đốc nhân câm nín. Tuy nhiên, chỉ mở miệng mình ra vẫn chưa đủ, chúng ta phải phân rẽ khỏi thế gian. Chúng ta không thể tiếp tục giữ những bạn bè cũ, những sự ràng buộc xã hội, hay những liên hệ cũ kỹ khác. Chúng ta phải quí trọng địa vị hiện tại của mình trong Chúa và quay khỏi địa vị trước đây. Con người phải đi ra và của cải cũng phải đi ra. Những người khác có thể nói chúng ta khờ dại, nhưng chúng ta không nên nghe lời họ. Ngày nay chúng ta phải ra khỏi Ai Cập. Từ ngày trở nên Cơ Đốc nhân, con đường của chúng ta là ở trong đồng vắng, chứ không phải ở tại Ai Cập.

Theo từ ngữ của Tân Ước, cả Ai Cập lẫn đồng vắng đều tượng trưng cho thế gian. Ai Cập chỉ về thế gian theo ý nghĩa tinh thần. Đồng vắng chỉ về thế gian theo ý nghĩa thuộc thể. Cơ Đốc nhân ở trong thế gian thuộc thể nhưng không ở trong thế gian theo phương diện tinh thần. Chúng ta phải thấy rằng thế gian có hai phương diện: thứ nhất đó là một nơi chốn, và thứ hai đó là một hệ thống. Có nhiều điều liên quan đến thế gian thuộc thể rất quyến rũ, gợi lên dục vọng của mắt, dục vọng của xác thịt và hư vinh của đời sống. Đó là Ai Cập. Nhưng thế gian có một ý nghĩa khác, đó là thế gian thuộc thể, là nơi thân thể con người cư ngụ.

D. Lìa Khỏi Thế Gian Về Phương Diện Tinh Thần

Ngày nay, Cơ Đốc nhân chúng ta phải ra khỏi hệ thống và tổ chức của thế gian. Lìa khỏi thế gian chỉ về sự giải cứu khỏi thế gian về phương diện tinh thần, không phải thế gian về phương diện thuộc thể. Chúng ta cần lìa bỏ thế gian về phương diện tinh thần ở đàng sau, chứ không phải là thế gian về phương diện thuộc thể. Nói cách khác, chúng ta vẫn đang sống trong thế gian nhưng thế gian đã trở nên đồng vắng đối với chúng ta.

Thế gian là gì đối với chúng ta? D. M. Panton đã nói rất hay: “Khi tôi còn sống, đối với tôi, đó là một cuộc hành trình, khi tôi qua đời, đối với tôi đó là một nấm mồ”. Đang khi tín đồ còn sống trên đất này, thế gian là một cuộc hành trình đối với họ; khi họ chết, thế gian chỉ là ngôi mộ họ được chôn trong đó. Chúng ta phải được phân rẽ khỏi những người trong thế gian. Mọi tín đồ đều phải phân rẽ khỏi thế gian. Theo cái nhìn của thế gian, chúng ta ở trong đồng vắng, chúng ta là lữ khách. Họ là những người ở trong thế gian.

E. Kiều Dân Và Lữ Khách Trong Thế Gian Này

Chúng ta phải nhận thức mình là kiều dân và lữ khách trong thế gian này. Bàn đến thế gian về phương diện đạo đức, chúng ta phải ra khỏi nó. Nó muốn giữ chúng ta lại, nhưng nếu ở lại, chúng ta không thể hầu việc Đức Chúa Trời được. Thế gian muốn gần gũi chúng ta hơn, nhưng nếu cho phép nó đến quá gần, chúng ta không thể hầu việc Đức Chúa Trời. Thế gian muốn giữ người và báu vật của chúng ta, nhưng nếu những điều này được giữ lại trong thế gian, chúng ta không thể hầu việc Đức Chúa Trời của mình.

Chúng ta đã được phân rẽ khỏi Ai Cập, mặt chúng ta hướng về đất hứa. Nền tảng của sự phân rẽ ấy là huyết, huyết đã chuộc mua chúng ta. Người Ai Cập không được mua bằng huyết; những người trong thế gian chưa được cứu chuộc. Là những người được cứu chuộc, chúng ta đã được chuyển sang một thế giới khác. Vì vậy, chúng ta phải lìa khỏi thế gian này.

Giả sử anh em đến tiệm đồng hồ để mua một chiếc đồng hồ đeo tay. Anh em sẽ làm gì sau khi mua nó? Khi đã mua xong, anh em đem chiếc đồng hồ ấy đi. Không phải ta mua cái đồng hồ rồi lại để nó lại ở tiệm. Ta không nên nói với chủ tiệm: “Đây, ông hãy sử dụng nó!”. Nói như vậy là không hợp lý. Mua có nghĩa là đem đi. Bất cứ khi nào mua xong, người ta cũng đem đi. Nếu tôi mua một bao gạo, tôi chở bao gạo ấy ra khỏi tiệm. Sau khi mua một món gì đó, vật đã mua được đem đi. Xin hãy nhớ rằng vì huyết đã mua chúng ta, chúng ta phải được đem ra khỏi thế gian. Khi một người được mua bằng huyết Chúa, người ấy nên ra đi để đến đất hứa. Ngay khi được mua, người ấy nên ra đi. Những ai không được mua có thể ở lại. Nhưng ngay khi được mua, người ấy nên ra đi. Khi đã được mua, chúng ta không có sự chọn lựa nào khác hơn là đi với Chúa. Nếu đã được Chúa mua, tôi phải lìa khỏi thế gian này và đi với Ngài.

II. NHỮNG LÃNH VỰC ĐÒI HỎI PHẢI PHÂN RẼ KHỎI THẾ GIAN

Có thể anh em hỏi mình nên phân rẽ khỏi điều gì? Những gì được kể là thế gian? Chúng ta nên phân rẽ khỏi những lãnh vực nào? Trước khi tiếp xúc với một điều cụ thể nào đó, chúng ta nên nhận thức lòng và linh của mình là những điều đầu tiên cần phải phân rẽ khỏi thế gian. Nếu lòng của một người hướng về thế gian, nói với người ấy về bất cứ điều gì khác cũng đều vô ích. Tìm cách giải cứu người ấy khỏi một trăm điều chỉ là vô ích nếu chính người ấy vẫn còn ở trong thế gian. Trước hết, phải giải cứu con người, giải cứu linh và giải cứu tấm lòng. Sự giải cứu khỏi các sự việc khác sẽ theo sau.

Một người cần được phân rẽ hoàn toàn khỏi Ai Cập; người ấy phải được phân rẽ khỏi thế gian. Người ấy không nên e ngại rằng những người khác sẽ phê phán mình là người lập dị. Kế đến, cần lưu ý đến một số nguyên tắc. Trong một vài lãnh vực, chúng ta cần được phân rẽ khỏi thế gian, trong khi ở những lãnh vực khác chúng ta nên giữ sự hòa bình với nó. Chúng ta không có ý gây sự bất hòa. Trong gia đình, tại nơi làm việc và ở mọi nơi, chúng ta không muốn gây tranh cãi. Chúng ta hãy xem xét năm điều cụ thể cần được xử lý:

A. Những Điều Thế Gian Cho Là Cơ Đốc nhân Không Nên Làm

Chúng ta nên kiêng những điều mà thế gian cho là Cơ Đốc nhân không nên làm. Nếp sống Cơ Đốc chúng ta ít nhất nên đáp ứng tiêu chuẩn của người thế gian. Mọi người trong thế gian đã đặt ra một thước đo và một tiêu chuẩn cho Cơ Đốc nhân. Nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này, anh em sẽ làm họ thất vọng. Khi làm một điều gì, anh em không nên để người ngoại chung quanh mình hỏi: “Các Cơ Đốc nhân có làm điều đó không?” Nếu những người khác nói như vậy, anh em đã thất bại. Ngay khi bị họ quở trách, anh em thất bại. Giả sử anh em bị bắt gặp đi đến một số nơi nào đó. Người ngoại có thể nói: “Cơ Đốc nhân có đến những nơi như vậy không?” Có những nơi người ngoại thích lui tới. Nếu anh em bảo họ không nên đến những nơi như vậy, họ có thể phản đối và tranh luận với anh em. Nhưng nếu chính anh em đến những nơi ấy, họ sẽ hỏi: “Sao bạn cũng đến những nơi đó?” Khi người ngoại làm một số điều tội lỗi người ta không nói gì, nhưng nếu anh em làm những điều giống như vậy, họ sẽ phê bình. Vì vậy, chúng ta phải tránh những điều người ngoài cho là không đúng đắn. Đó là sự đòi hỏi tối thiểu. Khi một người ngoại nói: “Cơ Đốc nhân không nên làm như vậy”, chúng ta cần phải quay khỏi điều đó ngay lập tức.

Một số thanh niên được cứu, nhưng cha mẹ họ vẫn chưa được cứu. Đôi khi họ xin cha mẹ một điều gì đó. Có lẽ cha mẹ họ nói: “Cơ Đốc nhân như con mà vẫn muốn những điều này sao?” Không gì xấu hổ cho một Cơ Đốc nhân hơn là bị người ngoại điều chỉnh. Áp-ra-ham nói dối và bị A-bi-mê-léc quở trách. Đó là điều xấu hổ nhất trong Kinh Thánh. Chúng ta phải kiêng những điều người ngoại cho là không đúng đắn. Chúng ta phải tránh những điều người thế gian, người Ai Cập cho là Cơ Đốc nhân không nên làm. Chúng ta phải phân rẽ khỏi những điều ấy.

B. Những Điều Không Phù Hợp Với Chúa

Chúng ta phải cất bỏ những gì không phù hợp với Chúa. Vì Chúa phải chịu sỉ nhục trên đất, chúng ta không nên tìm vinh quang ở đây. Vì Chúa bị đóng đinh như một tên cướp, chúng ta không nên tìm cách để được hoan nghênh khắp nơi. Khi Chúa bước đi trên đất, Ngài bị tố cáo là bị quỉ ám. Chúng ta không thể để cho người ta nói rằng chúng ta có tâm trí sáng suốt nhất, thông minh hay rất trí thức. Chúng ta phải trải qua những gì Chúa đã trải qua. Tất cả những điều nào không phù hợp với Chúa phải ra đi.

Chúa nói nô lệ không hơn chủ và môn đồ không hơn thầy. Nếu thế gian đối xử với Chủ chúng ta theo cách ấy, chúng ta không nên mong thế gian đối xử với chúng ta theo cách khác. Nếu thế gian đối xử với Thầy chúng ta theo cách này, chúng ta không nên mong thế gian đối xử với chúng ta theo cách kia. Nếu không được đối xử giống như Chủ mình, chúng ta có gì sai trật rồi và nhất định đã có gì trục trặc trong mối liên hệ giữa mình với Chúa. Bất cứ điều gì Chúa đã kinh nghiệm trên đất cần phải là kinh nghiệm của chúng ta hôm nay.

Để theo Jesus người Na-xa-rét, chúng ta phải sẵn sàng chịu sỉ nhục, đây không phải là điều vinh quang. Theo Jesus người Na-xa-rét có nghĩa là vác thập tự giá. Khi người ta đến với Chúa lần đầu, Chúa bảo họ phải vác thập tự giá đi theo Ngài. Theo ý Chúa nói, đây là cửa chính để bước vào. Ngài không chờ cho đến khi họ vào trong phòng rồi mới nói với họ điều kiện này. Trước khi chúng ta vào, Chúa nói cách sáng tỏ rằng chúng ta phải vác thập tự giá theo Ngài. Chúa kêu gọi chúng ta vác thập tự giá. Đó là con đường chúng ta đang đi; chúng ta chỉ có thể theo Ngài trên con đường này. Mối liên hệ của Chúa với thế gian cũng cần phải là mối liên hệ của chúng ta với thế gian. Mối liên hệ của chúng ta với thế gian phải phù hợp với mối liên hệ của Chúa với thế gian; chúng ta không thể chọn con đường nào khác.

Ga-la-ti 6:14 cho thấy thập tự giá đứng giữa thế gian và Chúa. Chúa ở bên này và thế gian ở bên kia. Thập tự giá đứng giữa. Chúng ta và thế gian đứng ở hai phía đối nghịch của thập tự giá. Thế gian đóng đinh Chúa trên thập tự giá, vì vậy, thế gian ở phía bên kia của thập tự giá. Vì tôi ở bên phía của Chúa, tôi phải đi ngang qua thập tự giá để đến với thế gian. Không có cách nào đi vòng quanh thập tự giá vì thập tự giá là một sự kiện, và cũng là lịch sử. Tôi không thể hủy bỏ sự thật này và tôi không thể hủy bỏ lịch sử. Thế gian đã đóng đinh Chúa của tôi. Tôi không thể đi con đường khác. Nếu thập tự giá là một sự thật, thế gian bị đóng đinh đối với tôi cũng là một sự thật đời đời. Nếu không thể hủy bỏ thập tự giá, tôi cũng không thể hủy bỏ sự kiện thế gian đã bị đóng đinh đối với tôi. Ngày nay, tôi không có con đường nào để đi qua phía thế gian, trừ phi tôi cất bỏ thập tự giá. Thập tự giá ở đây, và tôi không có cách nào tránh thập tự giá vì Chúa của tôi bị đóng đinh là một sự thật. Ngày nay, tôi là một người ở phía bên này thập tự giá.

Giả sử cha mẹ hay anh em của một người kia bị giết chết. Những người khác có thể đưa ra một lời bào chữa hợp lý cho kẻ sát nhân, nhưng có lẽ người ấy nói: “Người thân của tôi đã chết rồi. Lời bào chữa hợp lý không thể thay đổi sự thật này. Nếu người thân của tôi chưa chết, còn có thể nói vài điều. Nhưng bây giờ họ đã chết, thì còn gì để nói nữa?”. Cũng theo nguyên tắc này, chúng ta có thể nói thập tự giá đã có đây rồi, còn gì để nói khi thập tự giá đã có ở đây. Thế gian đã đóng đinh Chúa chúng ta trên thập tự giá. Ngày nay, chúng ta ở bên phía của Chúa và chỉ có thể nói: “Hỡi thế gian, theo cái nhìn của ngươi, ta đã bị đóng đinh. Theo cái nhìn của ta, ngươi cũng đã bị đóng đinh”. Ngày nay, hai bên không thể tương giao với nhau. Thế gian không thể qua bên này. Chúng ta cũng không thể qua bên đó. Thập tự giá là một sự thật. Nếu không có cách nào hủy bỏ thập tự giá, thì tôi cũng không có cách nào chinh phục thế gian về phía mình. Chúa của tôi đã chết và không thể nào giải hòa được.

Khi nhìn thấy thập tự giá, chúng ta có thể nói: “Tôi khoe khoang về thập tự giá”. Đối với chúng ta, thế gian đã bị đóng đinh trên thập tự giá. Đối với thế gian, chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá (Ga. 6:14). Thập tự giá sẽ mãi mãi là một sự kiện lịch sử. Là Cơ Đốc nhân, chúng ta ở phía bên này trong khi thế gian ở phía bên kia. Thập tự giá ở giữa. Ngay khi mở mắt ra, chúng ta sẽ không thấy gì ngoài thập tự giá. Nếu muốn thấy thế gian, trước hết chúng ta phải nhìn thấy thập tự giá.

Tín đồ mới cần được Chúa dẫn dắt để nhìn thấy rằng tình trạng của mình phải phù hợp với tình trạng của Chúa. Một số người hỏi nhiều điều. Họ hỏi: “Nếu làm điều này, chúng ta có chạm đến thế gian không?” Và họ lại hỏi “Chúng ta có thể làm điều đó không?” Chúng ta không thể nói với người ta từng điều họ phải làm. Chúng ta chỉ cần cho họ nguyên tắc tổng quát. Thế gian nghịch với thập tự giá, nghịch với Chúa chúng ta. Nếu lòng chúng ta mở ra và mềm mại trước mặt Đức Chúa Trời, nếu chúng ta đến với Ngài, sự khác biệt giữa thế gian và thập tự giá tự phát sẽ trở nên sáng tỏ cho chúng ta.

Ngay khi đến với Chúa, chúng ta sẽ khám phá thế gian là gì và thế gian không là gì. Chúng ta chỉ cần hỏi: “Mối liên hệ của tôi với điều này là gì, và khi Chúa Jesus ở trên đất, mối liên hệ của Ngài với điều đó ra sao?” Khi nào mối liên hệ của chúng ta với thế gian giống như mối liên hệ của Chúa [với thế gian], thì chúng ta đúng đắn. Nếu vị trí của chúng ta khác với vị trí của Chúa, chúng ta đã sai lầm. Chiên Con đã bị giết, chúng ta là những người đi theo Chiên Con. Chúng ta là những người theo Chiên Con đến bất cứ nơi nào Ngài đi (Khải. 14:4). Chúng ta đứng nơi Chúa đứng. Bất cứ điều gì không có cùng nền tảng với Chúa hay đứng nghịch với Chúa đều là thế gian, và chúng ta phải lìa khỏi điều đó.

C. Bất Cứ Điều Gì Dập Tắt Sự Sống Thuộc Linh Của Chúng Ta

Chúng ta khó có thể vạch ra thế gian từng điều một, danh sách này dài bất tận. Nhưng chúng ta nên nắm lấy một nguyên tắc cơ bản: tất cả những gì dập tắt sự sống thuộc linh trong Chúa của một người là thế gian. Thế gian là bất cứ điều gì giết chết lòng tha thiết muốn cầu nguyện với Đức Chúa Trời của một người. Thế gian là bất cứ điều gì lấy đi niềm vui thích nơi Lời Đức Chúa Trời của một người. Thế gian là bất cứ điều gì ngăn cản một người không làm chứng trước mặt người khác. Thế gian là bất cứ điều gì ngăn cản một người đến với Chúa, bất cứ điều gì dẫn đến sự xưng tội. Thế gian là bầu không khí làm nghẹt ngòi và làm khô hạn một người. Đó là những gì làm một người nản lòng, không còn yêu Chúa và khao khát Ngài. Ở đây chúng ta thấy một nguyên tắc rộng lớn, bất cứ điều gì làm nguội lạnh tình trạng thuộc linh của chúng ta trước mặt Chúa là thế gian. Chúng ta phải từ bỏ tất cả những điều này.

Một số người nói: “Điều này không có gì tội lỗi cả. Anh em có thể nói nó là thế gian không?” Theo mắt chúng ta, nhiều điều dường như rất tốt, nhưng sau khi chạm đến chúng một hai lần, chúng dập tắt ngọn lửa bên trong chúng ta. Lương tâm chúng ta trở nên yếu ớt trước mặt Đức Chúa Trời. Sau khi liên hệ với những điều này, việc đọc Kinh Thánh trở nên vô vị. Chúng ta có thể có thì giờ, nhưng không còn lòng dạ nào đọc Kinh Thánh nữa. Sau khi tham gia vào những điều như vậy, chúng ta cảm thấy trống rỗng bên trong và không có gì để làm chứng trước mặt loài người. Những điều như vậy có thể không phải là tội. Vấn đề của chúng ta là những điều này có làm nguội lạnh sự sống thuộc linh của chúng ta hay không. Tất cả những gì làm nguội lạnh sự sống thuộc linh của chúng ta đều là thế gian và phải bị từ bỏ hoàn toàn trước mặt Chúa.

D. Tất Cả Những Gì Không Để Lại Trong Người Khác Ấn Tượng Chúng Ta Là Những Cơ Đốc nhân

Chúng ta cần đề cập thêm một điều, đó là mối liên hệ của mình với người khác. Tất cả những nhiệm vụ, sự liên lạc hay hoạt động xã hội nào làm cho chúng ta giấu đèn mình dưới thùng cũng đều là thế gian. Nhiều mối quan hệ bè bạn, nhiệm vụ và những sự tiếp xúc trong xã hội với người thế gian bắt buộc chúng ta phải giấu đèn của mình dưới thùng, trong những hoàn cảnh đó, chúng ta không có cách nào đứng lên tuyên bố mình là Cơ Đốc nhân. Khi những người khác tham gia vào các câu chuyện như vậy, anh em phải giả vờ lịch sự. Anh em phải lắng nghe họ nói và tươi cười với họ. Anh em cảm thấy nguội lạnh bên trong, nhưng phải khoác lấy một vẻ mặt tươi cười. Bên trong anh em cảm thấy đó là thế gian, nhưng bề ngoài anh em phải tỏ ra hòa đồng với họ. Bên trong anh em biết đó là tội lỗi, nhưng bề ngoài anh em không thể nói đó là sai. Anh em không nên tiếp tục ở trong hoàn cảnh xã hội như vậy. Nhiều con cái của Đức Chúa Trời dần dần bị cuốn vào thế gian do tiếp xúc và hoạt động xã hội cách không cẩn thận.

Tất cả các tín đồ mới phải biết chỗ đứng của mình ngay từ đầu và phải chọn lựa. Chúng ta không cố tình chống đối xã hội. Chúng ta không phải Giăng Báp-tít là người không ăn, không uống. Chúng ta theo Chúa của mình là Đấng ăn và uống. Nhưng khi tiếp xúc với người ta, chúng ta phải duy trì chỗ đứng của mình. Không ai có thể xúc phạm chỗ đứng của Cơ Đốc nhân chúng ta. Họ cần phải tôn trọng chỗ đứng của chúng ta. Khi tôi chọn chỗ đứng của một Cơ Đốc nhân, tôi phải duy trì chỗ đứng ấy cho dầu người khác phê phán tôi.

Nếu thật sự muốn chọn con đường phân rẽ khỏi thế gian, chúng ta phải chú ý đến việc nói năng của mình. Chúng ta cũng phải bày tỏ vị trí Cơ Đốc của mình mỗi khi giao thiệp với người khác. Nếu không thể duy trì chỗ đứng Cơ Đốc của mình, tốt hơn chúng ta nên lìa bỏ nơi đó. Thi Thiên 1:1 nói rằng chúng ta không nên “đứng trong đường tội nhân, ngồi chung chỗ của kẻ nhạo báng”. Nếu đứng trong đường tội nhân, không sớm thì muộn cuối cùng chúng ta cũng sẽ ở trong chỗ của họ. Nếu ngồi chung với kẻ nhạo báng, chẳng chóng thì chầy, chúng ta sẽ trở nên những người nhạo báng. Tội và sự nhạo báng rất hay lây. Chúng ta phải học tập tránh những điều này như tránh vi trùng.

E. Những Điều Các Cơ Đốc nhân Yếu Đuối Không Tán Đồng

Những điều gây cho lương tâm yếu đuối vấp ngã là một loại khác tạo nên thế gian. Con cái Đức Chúa Trời phải học tập tránh những điều đó. Trong phần trước chúng ta đã thảo luận về những điều thế gian cho là không tốt. Phần này chúng ta nói về những điều Cơ Đốc nhân non trẻ cho là không tốt. Nếu người ngoại nghĩ rằng chúng ta không nên làm một điều gì đó, chúng ta sẽ mất chứng cớ khi làm điều đó. Tương tự như vậy, chúng ta nên tránh khỏi tất cả những gì các Cơ Đốc nhân không tán đồng, thậm chí người không tán đồng đó là một người trẻ nhất và yếu đuối nhất trong số tất cả các Cơ Đốc nhân. Đó là mạng lịnh của Kinh Thánh. Không phải lời nói của Cơ Đốc nhân mạnh mẽ, nhưng là lời nói của Cơ Đốc nhân yếu đuối sẽ khẳng định điều chúng ta nên hoặc không nên làm. Những gì họ nói ra có thể không đúng; những gì họ cho là cần phải cấm có thể không sai. Nhưng chúng ta không nên làm họ vấp ngã vì lương tâm họ yếu đuối. Họ có thể nghĩ rằng chúng ta đang đi trên con đường sai trật. Nếu chọn con đường đó, chúng ta sẽ gây cho họ vấp ngã. Phao-lô nói: “Đối với tôi mọi sự đều hợp pháp, nhưng không phải mọi sự đều có ích” (1 Cô. 6:12). Mọi sự đều hợp pháp, nhưng những người khác có thể cho đó là một hình thức của thế gian. Do đó, vì cớ họ, chúng ta không nên làm những điều ấy.

Phao-lô nói đến ví dụ về việc ăn thịt. Ông nói rằng nếu việc ăn thịt gây vấp ngã cho anh em, ông sẽ không bao giờ ăn thịt. Điều này không phải dễ. Ai có thể kiêng ăn thịt mãi mãi? Lời của Phao-lô không gợi ý chúng ta không nên ăn thịt. Trong Thư Ti-mô-thê thứ nhất, ông nói rõ kiêng thịt là sai lầm. Tuy nhiên, ông bày tỏ rằng ông muốn đề phòng tối đa. Đối với ông, ăn thịt hay không chẳng thành vấn đề. Ông có thể sáng tỏ về điều mình làm, nhưng những người theo ông có thể không biết ông làm gì. Có thể chúng ta biết mình nên dừng lại tại điểm nào, nhưng những người theo sau không biết điều ấy. Điều gì sẽ xảy ra nếu họ tiến xa hơn vài bước? Chẳng có gì sai lầm nếu chúng ta ăn thịt, nhưng sau đó ít lâu, những người theo chúng ta có thể đi vào đền chùa để ăn của cúng hay kể cả thờ lạy hình tượng. Nhiều điều không trực tiếp liên hệ đến thế gian, nhưng chúng ta vẫn phải cẩn thận khi tiếp xúc với chúng vì người khác có thể kể chúng là một hình thức của thế gian.

III. RA KHỎI GIỮA VÒNG HỌ ĐỂ ĐƯỢC CHÚA, LÀ ĐẤNG TOÀN TÚC, TIẾP NHẬN CHÚNG TA

2 Cô-rin-tô 6:17-18 chép: “Vì vậy, Chúa phán: hãy ra khỏi giữa vòng họ và được phân rẽ, đừng đụng đến những gì ô uế, và Ta sẽ tiếp nhận các ngươi; ‘Ta sẽ làm Cha các ngươi, các ngươi sẽ là con trai, con gái Ta, Chúa Toàn Năng phán như vậy’ ”.

Trong Tân Ước, những chữ Chúa Toàn Năng được dùng lần đầu trong 2 Cô-rin-tô chương 6. Chúa Toàn Năng là Elshadai trong tiếng Hê-bơ-rơ. El là Đức Chúa Trời, sha là vú mẹ hay sữa mẹ, và shadai có nghĩa là một điều gì đó liên quan đến sữa. Trong tiếng Hê-bơ-rơ shadai có nghĩa là “toàn túc” (đầy đủ tất cả). Từ ngữ Đức Chúa Trời Toàn Năng trong Cựu Ước cũng là Elshadai, nên được dịch là “Đức Chúa Trời Toàn Túc”. Sữa mẹ là tất cả những gì đứa bé cần. Vú mẹ chứa đựng sữa, tất cả nguồn cung ứng nằm trong vú mẹ. Gốc của từ ngữ shadai là “vú mẹ”. Điều này có nghĩa là với Đức Chúa Trời, chúng ta có mọi sự.

2 Cô-rin-tô 6:17 cho biết nếu ra khỏi giữa vòng họ và không đụng đến những điều ô uế, Đức Chúa Trời sẽ đón nhận chúng ta và làm Cha của chúng ta. Chúng ta sẽ là con trai, con gái của Ngài, Chúa Toàn Túc phán như vậy. Chúng ta thấy những lời này không được nói lên cách hời hợt. Chúa phán: “Vì Ta, con đã lìa bỏ nhiều điều. Con đã ra khỏi giữa vòng họ và phân rẽ khỏi họ. Con đã chấm dứt liên hệ với họ và không còn đụng đến những điều ô uế. Hai tay con trống không, không còn gì trong con. Vì con đã làm mọi điều này, nên Ta sẽ đón nhận con”.

Xin nhớ rằng tất cả những ai cảm biết mình được Chúa đón nhận đều phân rẽ với thế gian. Nhiều người không cảm thấy tính ưu việt của Ngài khi đến với Ngài vì họ chưa xem mọi sự là rác rến. Những ai chưa xem mọi sự là rác rến chắc chắn xem những điều thuộc đất là quí báu. Những người như vậy không biết ý nghĩa của việc Đức Chúa Trời đón nhận mình; họ cũng không biết ý nghĩa của việc Đức Chúa Trời là Cha mình và mình làm con của Ngài có ý nghĩa gì. Họ không biết Đấng phán những lời này là Chúa Toàn Túc. Anh em có thấy ý nghĩa đặc biệt của chữ shadai không? Chữ Chúa Toàn Túc được dùng ở đây vì khi một người ném bỏ mọi sự, người ấy cần Đức Chúa Trời như shadai, cần Cha là Đấng Toàn Túc.

Thi Thiên 27:10 nói rằng nếu cha mẹ từ bỏ chúng ta, Đức Giê-hô-va sẽ nhận lấy chúng ta. Nói cách khác, Ngài trở nên cha của chúng ta. Thi Thiên 73:26 nói khi thịt và lòng chúng ta mòn mỏi, Đức Chúa Trời là vầng đá cho lòng chúng ta và là phần của chúng ta cho đến đời đời. Đây là kinh nghiệm ngọt ngào của chúng ta. Phải có sự mất mát ở phía bên này trước khi có sự nhận lãnh ở phía bên kia. Người mù chỉ gặp gỡ Chúa khi đã bị nhà hội loại ra (Gi. 9:35). Nếu vẫn ở trong nhà hội, chúng ta sẽ không bao giờ gặp Chúa. Nhưng khi bị loại ra, ngay lập tức chúng ta thấy ơn phước của Chúa ở trên mình.

Là những tín đồ mới, chúng ta phải ra khỏi thế gian. Chỉ khi ấy chúng ta mới nếm biết Chúa là ngọt ngào. Khi từ bỏ một điều gì đó ở bên này, chúng ta sẽ nếm biết sự nhân từ của Chúa ở bên kia.