Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 4

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG BỐN

XƯNG NHẬN BẰNG MÔI MIỆNG

Kinh Thánh: La. 10:10; Châm. 29:25; Mat. 10:32:33

I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC XƯNG NHẬN BẰNG MÔI MIỆNG

Khi đã tin Chúa, một người không nên giữ kín việc ấy, mà phải xưng nhận Ngài bằng môi miệng của mình. Xưng nhận Chúa bằng môi miệng là điều rất quan trọng.

A. Mở Miệng Ngay Khi Tin

Ngay khi tin Chúa, một người nên xưng nhận Ngài trước mặt người khác. Giả sử người kia sinh được một đứa con. Chúng ta sẽ nghĩ gì nếu đứa bé ấy vẫn không thể nói được tiếng nào khi nó lên một hay hai tuổi, thậm chí ba tuổi? Có phải chúng ta chỉ cho rằng đứa bé ấy chậm nói? Có thể nào một người như vậy bắt đầu nói “một, hai, ba, bốn” khi được ba mươi tuổi và sau đó tập nói “bố” và “mẹ” khi được năm mươi tuổi không? Không. Nếu một người bị câm khi còn thơ ấu, có lẽ người ấy sẽ câm suốt đời. Nếu không thể nói “bố” và “mẹ” khi còn bé, có lẽ suốt đời người ấy không thể nói lên những lời ấy. Cũng vậy, nếu một tín đồ mới không xưng nhận Chúa ra ngay sau khi tin Ngài, tôi e rằng người ấy sẽ câm nín suốt đời. Nếu không thể nói khi còn bé, có lẽ người ấy sẽ không thể nói khi trưởng thành.

Một số người đã là Cơ Đốc nhân suốt mười hay thậm chí hai mươi năm, nhưng họ vẫn câm. Lý do là vì họ không mở miệng suốt một, hai tuần đầu trong cuộc đời Cơ Đốc của mình. Họ sẽ tiếp tục câm cho đến khi chết. Việc xưng nhận Chúa bắt đầu khi một người tin. Nếu anh em mở miệng vào ngày mình tin Chúa, con đường xưng nhận sẽ mở ra cho anh em. Nếu một người câm trong những tuần lễ, những năm tháng đầu, người ấy có thể tiếp tục câm suốt đời. Vì vậy, ngay khi tin Chúa, người ấy phải cố gắng nói với những người khác về Chúa. Dầu thấy khó nói và không thích nói, người ấy phải nói. Người ấy phải nói với bà con và bạn bè. Nếu không học tập xưng nhận công khai, tôi e rằng người ấy sẽ câm trước mặt Đức Chúa Trời suốt đời. Chúng ta không mong thấy những tín đồ câm. Đó là lý do vì sao chúng ta phải học mở miệng ngay từ đầu. Nếu thất bại trong việc này từ đầu, về sau người ấy sẽ thấy càng khó nói hơn. Trừ phi Đức Chúa Trời ban sự thương xót đặc biệt hay có một cuộc phục hưng, những người này sẽ không bao giờ mở miệng. Họ phải nỗ lực rất nhiều khi phải mở miệng về sau. Tất cả các tín đồ mới nên tìm cơ hội xưng nhận Chúa trước mặt người ta. Một sự xưng nhận như vậy là điều quan trọng và gặt hái nhiều lợi ích.

B. Xưng Nhận Bằng Môi Miệng Dẫn Đến Sự Cứu Rỗi

La Mã 10:10 nói; “Vì tin trong lòng dẫn đến sự công chính và lấy miệng xưng nhận dẫn đến sự cứu rỗi”. “Tin trong lòng dẫn đến sự công chính”. Đây là vấn đề trước mặt Đức Chúa Trời. “Lấy miệng xưng nhận dẫn đến sự cứu rỗi”. Điều này nói về sự cứu rỗi trước mặt loài người. Anh em tin hay không là vấn đề trước mặt Đức Chúa Trời, [sự kiện ấy] không ai thấy được. Nếu tin cách thành thật, anh em được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, nếu chỉ tin trong lòng mà không lấy miệng nói ra, những người khác sẽ không nhận biết anh em là người được cứu, họ vẫn kể anh em là người không tin. Họ thấy giữa anh em và họ không có gì khác nhau. Đó là lý do vì sao Kinh Thánh nhấn mạnh đến nhu cầu xưng nhận bằng môi miệng thêm vào việc tin trong lòng. Chúng ta phải lấy miệng nói ra.

Mỗi một tín đồ mới phải tìm cơ hội xưng nhận Chúa. Giữa vòng bạn cùng lớp, đồng nghiệp, bạn hữu, họ hàng và tất cả những ai đến tiếp xúc với chúng ta, ngay khi có cơ hội, chúng ta nên nói với họ: “Tôi đã tin Chúa Jesus”. Chúng ta mở miệng mình ra càng sớm càng tốt. Một khi chúng ta mở miệng, những người khác sẽ biết chúng ta tin Chúa Jesus. Bằng cách ấy, chúng ta được giải cứu khỏi những bạn bè vô tín.

Chúng ta đã thấy một số người lưỡng lự khi tiếp nhận Chúa, nhưng một khi họ đứng lên tuyên bố: “Tôi tin Chúa Jesus”, họ trở nên tin chắc. Điều tệ hại nhất cho một tín đồ là ngậm miệng mình lại. Một khi nói lên, người ấy tiến tới một bước vững vàng và trở nên vững chắc. Nhiều tín đồ phân vân lúc đầu, nhưng ngay khi nói “Tôi tin”, họ trở nên vững vàng.

C. Việc Xưng Nhận Cứu Chúng Ta Khỏi Nhiều Rắc Rối

Người nào mở miệng xưng nhận sau khi tin sẽ được nhiều ích lợi. Sự xưng nhận ấy sẽ cứu họ khỏi nhiều rắc rối trong tương lai.

Giả sử anh em không mở miệng mình và nói: “Tôi đã quyết định theo Chúa Jesus, bây giờ tôi thuộc về Ngài” thì những người khác vẫn kể anh em y như họ. Khi họ phạm tội hay buông mình trong dục vọng, họ sẽ kể anh em là người giữa vòng họ. Trong lòng, anh em nhận biết mình là Cơ Đốc nhân và ngồi giữa họ là một điều sai lầm. Nhưng anh em không thể từ chối họ, vì anh em muốn làm vui lòng họ. Anh em có thể tìm được một lời cáo lỗi để từ chối họ. Nhưng đến lần kế tiếp họ vẫn kéo anh em theo và anh em lại phải nghĩ ra một cớ khác để từ chối họ. Anh em có thể tìm cách cáo lỗi một hay hai lần, nhưng áp lực sẽ luôn luôn trở lại. Như thế tại sao anh em lại không “giương bảng hiệu” ngay từ ngày đầu và xưng nhận mình là một tín đồ? Anh em chỉ cần xưng nhận một hai lần, thì những người khác sẽ thôi không cố gắng thuyết phục anh em nữa.

Nếu anh em không lấy miệng xưng nhận, tức là làm Cơ Đốc nhân cách bí mật, anh em sẽ kinh nghiệm nhiều điều khó khăn hơn là những Cơ Đốc nhân công khai. Sự cám dỗ của anh em sẽ lớn hơn gấp nhiều lần sự cám dỗ của những người công khai xưng nhận Chúa. Anh em sẽ bị tình cảm loài người và những mối liên hệ trong quá khứ cột trói mình. Anh em không thể cáo lỗi mãi là mình nhức đầu hay bận việc. Anh em không thể cứ cáo lỗi mãi. Đó là lý do vì sao anh em phải tuyên bố ngay từ ngày đầu là “Tôi đã tin Chúa Jesus. Tôi đã tiếp nhận Ngài”. Một khi anh em “giương bảng hiệu” này, các đồng nghiệp, bạn cùng lớp, họ hàng và gia đình sẽ biết anh em là loại người nào. Điều ấy sẽ cứu anh em khỏi rất nhiều rắc rối. Nếu không, anh em sẽ gặp đủ mọi loại ngăn trở. Nếu một người lấy miệng xưng nhận Chúa, người ấy sẽ được cứu khỏi nhiều rắc rối.

D. Lương Tâm Sẽ Buộc Tội Nếu Không Xưng Nhận Chúa

Có một nan đề nghiêm trọng khác đối với những ai không xưng nhận Chúa bằng môi miệng. Nhiều tín đồ của Chúa kinh nghiệm điều này khi Ngài còn trên đất.

Chúa Jesus bị người Do Thái từ khước. Họ kịch liệt chống đối và từ khước Ngài. Trong Giăng chương 9, người Do Thái quyết định rằng tất cả những ai xưng nhận Jesus là Đấng Christ sẽ bị đuổi ra khỏi nhà hội (c. 22). Trong chương 12, Kinh Thánh nói rằng nhiều nhà lãnh đạo Do Thái âm thầm tin Chúa Jesus, nhưng không dám xưng nhận Ngài vì họ sợ bị đuổi ra khỏi nhà hội (c. 42). Anh em nghĩ những người này có sự bình an trong lòng không? Có lẽ họ cảm thấy bất ổn khi xưng nhận Chúa, nhưng họ còn cảm thấy bất ổn hơn nữa vì không xưng nhận Ngài. Nhà hội là nơi như thế nào? Đó là nơi người ta chống đối Chúa Jesus. Họ lập mưu, bàn kế và thảo luận những kế hoạch để gài bẫy Chúa tại đó. Những điều tối tăm như vậy diễn ra trong nhà hội. Một tín đồ thật nên làm gì giữa những người như vậy? Người ấy cần bao nhiêu sức lực để giữ cho miệng mình câm lặng? Trong những hoàn cảnh như vậy, thật khó cho ai mở miệng xưng nhận Chúa, nhưng còn khó hơn cho người nào không [dám] mở miệng xưng nhận Ngài.

Nhà hội của người Do Thái là hình ảnh thế gian chống đối Chúa. Thế gian luôn luôn phê phán Chúa Jesus. Nó luôn luôn xem Jesus người Na-xa-rét là một nan đề. Nó có đủ điều để nói nghịch cùng Chúa chúng ta. Ở một nơi như vậy, anh em có thể nghe họ và giả vờ làm một người trong vòng họ sao? Giả vờ là điều đau đớn, giả vờ cũng thật khó khăn. Anh em phải tập trung sức lực đủ để kiểm chế và đè nén chính mình trước khi có thể giả vờ. Trong những trường hợp ấy, không phải một điều gì đó trong anh em muốn kêu la lên: “Người này là Con của Đức Chúa Trời, tôi tin Ngài” sao? Không phải trong anh em có điều gì muốn công bố rằng: “Người này là Đấng cứu rỗi tôi và tôi đã tin Ngài” hay “Người này giải cứu tôi khỏi tội lỗi mình. Có thể các ông không tin Ngài, nhưng tôi tin” sao? Trong anh em không có điều gì muốn tuyên bố như vậy sao?

Có phải anh em định buộc mình phải im lặng chỉ vì muốn được sự tôn trọng và địa vị của loài người không? Đối với tôi dường như những nhà lãnh đạo Do Thái giáo trong Giăng chương 12 bị đuổi ra khỏi nhà hội là điều dễ chịu hơn hết. Họ sẽ cảm thấy thoải mái hơn nhiều nếu họ xưng nhận Chúa. Nếu là tín đồ giả, anh em có xưng nhận hay không thì không có gì khác biệt. Nhưng là tín đồ thật, chắc chắn anh em làm tổn thương lương tâm mình nếu anh em giả vờ và đồng tình với những người chống Chúa. Khi những người khác chống đối Chúa, anh em không có sự bình an trong lòng, nhưng anh em phải bắt mình nói rằng: “Những gì anh nói rất hay”. Đó không phải là điều đau đớn nhất mà một con người phải làm hay sao?

Không có gì đau đớn hơn là không xưng nhận Chúa. Nỗi đau đớn lớn lao nhất là không xưng nhận Chúa trước mặt người ta. Tôi không muốn đánh đổi vị trí của mình với những nhà lãnh đạo ấy. Nỗi đau đớn của họ quá lớn! Nếu anh em không phải là tín đồ, thì không có gì phải bàn. Nhưng nếu anh em đã tin, thì ra khỏi nhà hội là điều dễ chịu hơn, hân hoan hơn, vui mừng hơn. Anh em có thể cảm thấy có nhiều chướng ngại vật, nhưng những kinh nghiệm quá khứ cho thấy các chướng ngại vật sẽ lớn hơn và lòng anh em sẽ phải chịu đựng nhiều hơn nếu không đi con đường này.

Giả sử anh em nghe một người nào đó vu khống cha mẹ mình cách hiểm độc, nói đủ điều về cha mẹ mình. Giả sử anh em cố gắng ngồi im và lắng nghe họ, hay thậm chí tệ hơn nữa là giả vờ đồng lòng với họ. Nếu anh em làm như vậy, tôi không biết anh em là loại người nào. Chúa đã phó mạng sống Ngài để cứu chúng ta. Nếu không lên tiếng vì chính Chúa mà mình thờ phượng và hầu việc, thì chúng ta hèn nhát biết bao? Chúng ta phải dạn dĩ đứng lên vì Chúa mà tuyên bố: “Tôi thuộc về Ngài!”.

II. NHỮNG LỖI LẦM THÔNG THƯỜNG

A. Thay Thế Sự Xưng Nhận Bằng Cách Cư Xử Tốt Đẹp

Một số tín đồ mới bị ảnh hưởng bởi những sự dạy dỗ truyền thống. Họ nghĩ rằng cư xử tốt đẹp là điều quan trọng nhất cho Cơ Đốc nhân và sự xưng nhận bằng môi miệng không quan trọng bằng. Họ nghĩ rằng người ta thay đổi trong lời nói thì không quan trọng, nhưng họ thay đổi trong việc làm thì mới quan trọng. Chúng ta phải điều chỉnh quan niệm sai lầm này. Chúng ta không có ý nói rằng thay đổi hành vi là điều không cần thiết. Nếu hành vi của một người không thay đổi, dầu người ấy có xưng nhận bằng môi miệng thì cũng vô ích. Nhưng thay đổi những gì mình làm mà không xưng nhận bằng môi miệng thì cũng vô ích y như vậy. Hành vi thay đổi không bao giờ có thể thay thế cho sự xưng nhận bằng lời nói. Sau khi hành vi thay đổi, miệng chúng ta vẫn phải xưng nhận.

Mỗi một tín đồ mới phải nắm ngay cơ hội đầu tiên để nói cho người khác biết đức tin của mình nơi Chúa Jesus. Nếu anh em không lấy miệng xưng nhận, những người khác sẽ phỏng đoán nhiều điều về anh em. Họ sẽ tìm cách suy đoán để giải thích hành vi của anh em. Họ sẽ nói mọi điều về anh em, nhưng họ không chạm được Chúa Jesus. Vì vậy, anh em phải nói cho họ biết lý do hành vi của mình thay đổi. Không cách cư xử tốt đẹp nào có thể thay thế cho sự xưng nhận bằng lời nói. Cần phải có cách cư xử tốt, nhưng lấy miệng xưng nhận cũng cần thiết y như vậy. Anh em phải nói với những người khác: “Jesus là Chúa tôi, tôi muốn hầu việc Ngài”. Dầu cách cư xử của anh em có tốt đến đâu, những lời này phải ra từ miệng anh em.

Chúng ta nghe người ta nói rằng nếu họ có cách cư xử bề ngoài tốt đẹp, thì không cần phải mở miệng nói gì cả. Xin hãy nhớ rằng không ai màng phê phán những người nói như vậy nếu họ thất bại chút ít trong cách cư xử cá nhân. Nhưng nếu ai đứng lên công bố mình là Cơ Đốc nhân, ngay lập tức những người khác sẽ phê phán và quở trách họ khi họ sơ hở trong cách cư xử của mình. Vì vậy, những ai nói cư xử tốt là đủ và không cần phải lấy miệng xưng nhận là những người trong thực tế đã tự cho mình một lời biện hộ về những thiếu sót của mình trong cách cư xử. Họ chừa một cửa sau để chính mình trốn thoát khỏi sự phê phán của người khác. Đừng bao giờ tin rằng chỉ cần thay đổi trong cách cư xử là đủ. Sự xưng nhận bằng môi miệng là cần thiết; thật ra, đó là điều tuyệt đối không thể thiếu được.

B. Sợ Không Kiên Trì Đến Cuối Cùng

Một vài người nghĩ: “Nếu tôi lấy miệng xưng nhận và rồi không kiên trì trong niềm tin Cơ Đốc của mình, thì điều ấy có trở nên trò cười cho những người khác không? Giả sử sau ba hoặc năm năm, tôi không còn làm một Cơ Đốc nhân được nữa, khi ấy tôi phải ăn nói thế nào? Tốt hơn bây giờ tôi không nên nói gì cả. Để tôi chờ đợi vài năm nữa, cho đến lúc tôi biết mình có theo nổi hay không”. Chúng ta có thể nói với những người như vậy rằng nếu họ không xưng nhận vì sợ vấp ngã hay thất bại, thì chắc chắn họ sẽ thất bại. Họ đã mở cánh cửa sau và cố gắng tránh cửa trước. Họ đã chuẩn bị để thối lui khỏi phải xưng nhận. Họ muốn chờ đợi cho đến khi biết chắc rồi mới xưng nhận. Chúng ta biết chắc những người như vậy sẽ thất bại. Tốt hơn họ nên đứng dậy và nói: “Tôi đây là vì Chúa”. Nếu trước hết anh em đóng cánh cửa sau lại thì về sau anh em sẽ khó thối lui hay sa sút. Do đó, anh em sẽ có cơ hội tốt hơn nhiều để tiến tới và tránh khỏi tình trạng thối lui. Thật ra, anh em chỉ có một con đường duy nhất là tiến tới.

Nếu anh em muốn chờ đợi cho đến khi có hành vi tốt rồi mới xưng nhận thì miệng anh em sẽ không bao giờ mở ra. Anh em sẽ luôn luôn câm lặng. Thậm chí khi đã có hành vi tốt đẹp, anh em vẫn sẽ câm nín. Nếu anh em không mở miệng mình từ đầu, về sau sẽ khó hơn nhiều. Nếu anh em chịu mở miệng, xác suất có được hành vi tốt đẹp sẽ cao hơn. Nếu anh em muốn chờ cho đến khi hành vi của mình tốt đẹp rồi mới xưng nhận, anh em sẽ mất cơ hội lên tiếng cũng như cơ hội có hành vi tốt đẹp, anh em sẽ mất cả hai và thất bại trong cả hai phương diện.

Chắc chắn Đức Chúa Trời không những là Đức Chúa Trời cứu chuộc chúng ta mà còn là Đức Chúa Trời gìn giữ chúng ta. Chúng ta nên ví sánh sự cứu chuộc với điều gì? Sự cứu chuộc giống như mua một điều gì đó. Còn sự gìn giữ thì sao? Sự gìn giữ giống như đặt vật đã mua vào trong tay một người. Có bao nhiêu người trên thế giới này mua sắm với ý định vất bỏ những món đồ mình mua sắm đi? Khi mua một cái đồng hồ, chúng ta muốn sử dụng nó năm hay mười năm, không ai mua đồng hồ với ý định ném bỏ nó đi. Đức Chúa Trời đang cứu nhiều người ở khắp mọi nơi. Ngài không cứu họ và rồi ném bỏ họ. Ngài muốn gìn giữ những người Ngài đã cứu. Vì Đức Chúa Trời đã cứu chúng ta, Ngài sẽ gìn giữ chúng ta. Vì Đức Chúa Trời đã cứu chuộc chúng ta, Ngài sẽ gìn giữ chúng ta cho đến ngày ấy. Đức Chúa Trời yêu chúng ta đến nỗi Ngài bằng lòng từ bỏ Con Ngài để cứu chuộc chúng ta. Nếu không có ý định giữ gìn chúng ta, Ngài không phải trả giá đắt như vậy. Mục đích cũng như kế hoạch của Đức Chúa Trời là gìn giữ chúng ta. Đừng sợ đứng lên nói rằng: “Tôi tin Chúa”. Có lẽ anh em sẽ nói: “Nếu tôi thất bại trong vài ngày thì sao?” Đừng lo lắng về điều đó, Đức Chúa Trời sẽ chịu trách nhiệm. Tốt hơn anh em nên đứng lên nói: “Tôi thuộc về Đức Chúa Trời”. Hãy phó thác chính mình cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời biết anh em cần được nâng đỡ, an ủi và bảo vệ. Chúng ta có sự bảo đảm khi nói rằng Đức Chúa Trời gìn giữ sự cứu rỗi cho con người. Sự gìn giữ này làm cho sự cứu chuộc đầy ý nghĩa.

C. Sợ Loài Người

Một số người không dám xưng nhận vì họ sợ loài người. Nhiều người thành thật nói rằng lòng họ không nghi ngại gì cả. Họ sẵn lòng đứng lên xưng nhận, nhưng khi nhìn vào mặt những người khác, họ trở nên sợ hãi. Khi họ nhìn vào mặt cha mẹ hay bạn bè, họ cảm thấy nhút nhát không dám nói. Đây là chỗ vấp ngã của nhiều người, họ sợ người ta và không dạn dĩ mở miệng. Một số người có bản tính nhút nhát; họ e dè không những trong việc xưng nhận Chúa mà cũng trong những việc khác nữa. Nếu anh em muốn họ nói với người khác về đức tin của mình, ấy là anh em đang đòi hỏi cả mạng sống của họ. Đơn giản là họ không dám mở miệng.

Tuy nhiên, loại người này cần nghe những gì Đức Chúa Trời nói. Châm-ngôn 29:25 nói: “Sự sợ loài người gài bẫy”. Nếu anh em sợ hãi khi gặp một người nào, anh em sẽ rơi vào “bẫy”. Ngay khi sợ hãi, anh em rơi vào bẫy. Sự sợ hãi trở nên cái bẫy của anh em. Bất cứ khi nào lòng anh em sợ loài người, anh em tạo nên một cái bẫy cho chính mình. Một khi sợ hãi, anh em bị mắc bẫy. Cái bẫy này được tạo nên do chính sự sợ hãi của anh em. Thật ra, có thể người mà anh em sợ rất muốn nghe anh em nói. Ngay cả nếu không có ý muốn nghe, người ấy cũng không đáng sợ như anh em nghĩ.

Có một câu chuyện về hai đồng nghiệp. Một là tín đồ và người kia thì không. Người tin rất nhút nhát, người không tin cũng rất nhút nhát. Tín đồ nhút nhát không dám nói với đồng nghiệp của mình rằng mình đã được cứu. Người không tin bối rối trước những sự thay đổi lớn lao của đồng nghiệp mình. Trước đây người ấy nóng nảy nhưng bây giờ đã thay đổi. Người kia không dám hỏi nguyên do. Hai người ngồi chung bàn, đối diện nhau mỗi ngày. Một người quá nhút nhát không dám nói, người kia quá nhút nhát không dám hỏi. Hằng ngày họ chỉ nhìn nhau. Một người sợ không dám nói, người kia sợ không dám hỏi. Một ngày nọ, người tín đồ không thể giữ im lặng lâu hơn nữa. Sau khi cầu nguyện về điều này, người ấy đến gặp người kia, bắt tay thật chặt và nói: “Tôi là một người rất nhút nhát. Ít nhất suốt ba tháng nay, tôi tranh chiến để nói với anh một điều. Bây giờ tôi sẽ nói với anh. Tôi đã tin Chúa Jesus”. Sau khi nói những lời này, mặt người ấy tái mét. Người kia nói: “Tôi cũng đã chờ đợi ba tháng. Tôi muốn hỏi vì sao anh khác lạ, nhưng tôi sợ không dám hỏi”. Người tín đồ đã thu hết can đảm để mở miệng. Từ đó về sau, cơ hội mở ra, người ấy đã đem được bạn mình đến với Chúa.

Những người sợ hãi loài người sẽ rơi vào bẫy. Xin nhớ rằng trong khi anh em sợ người khác, có thể họ cũng sợ anh em. Chúng ta đừng bao giờ sợ loài người. Chúng ta là những người theo Chúa không nên sợ loài người. Nếu sợ loài người, anh em không thể là Cơ Đốc nhân tốt và không thể hầu việc Đức Chúa Trời. Một Cơ Đốc nhân phải dạn dĩ nói với họ hàng và bạn bè mình. Người ấy phải dạn dĩ xưng nhận Chúa trong chỗ riêng tư và ở chốn công cộng. Chúng ta phải chọn lấy con đường này ngay từ đầu.

D. Nhút Nhát

Một số người rất nhút nhát. Họ cảm thấy làm Cơ Đốc nhân là một điều xấu hổ. Đúng là tâm trạng xấu hổ này xuất hiện khi chúng ta đối diện với những người vô tín. Nếu anh em nói với những người khác mình đang tham gia nghiên cứu về kỹ thuật, họ sẽ chúc mừng vì anh em có một tương lai tốt đẹp. Nếu anh em nói mình đang theo học một triết lý nào đó, họ cũng nói anh em là người sâu sắc. Anh em không xấu hổ khi nói mình làm nhiều điều. Nhưng nếu anh em nói mình là một Cơ Đốc nhân, nhiều người sẽ nói anh em quá đơn sơ hay không được trí thức cho lắm. Họ sẽ không coi trọng anh em. Anh em không xấu hổ khi nói về những điều khác, nhưng ngay khi xưng nhận đức tin Cơ Đốc của mình, anh em cảm thấy xấu hổ trong lòng. Một tín đồ mới không khỏi cảm thấy xấu hổ khi mở miệng xưng nhận đức tin của mình. Tuy nhiên, chúng ta phải thắng hơn cảm xúc này. Đúng là thế gian cảm thấy xấu hổ cho người nào trở nên Cơ Đốc nhân, nhưng chúng ta phải thắng hơn cảm xúc này.

Làm thế nào chúng ta thắng hơn cảm xúc xấu hổ ấy? Chúng ta phải xử lý nó theo hai phương diện:

Một mặt, chúng ta phải nhận thức rằng khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài mang tội lỗi của chúng ta cũng như sự xấu hổ của chúng ta. Khi Chúa mang tội lỗi của chúng ta, Ngài chịu đựng một sự sỉ nhục lớn lao. Ngày nay, theo cái nhìn của Đức Chúa Trời, chúng ta phải chịu sỉ nhục trước mắt loài người là điều đúng đắn. Sự sỉ nhục chúng ta chịu trước mặt loài người không thể so sánh với sự sỉ nhục Chúa chúng ta đã chịu trên thập tự giá vì chúng ta. Vì vậy, chúng ta không nên ngạc nhiên trước sự sỉ nhục mà nên nhận biết mình thuộc về Chúa.

Mặt khác, có một bài thánh ca rất hay, nói rằng: “Sự nhút nhát của chúng ta giống như bầu trời sáng sớm từ chối mặt trời! Nhưng Chúa chiếu rọi ánh sáng thần thượng, soi sáng lương tâm tăm tối như ban đêm của chúng ta”. Vì Chúa đã nhân từ đối với chúng ta và cứu chuộc chúng ta, vậy nên xấu hổ khi xưng nhận danh Ngài giống như bầu trời sáng sớm xấu hổ về ánh sáng của mặt trời. Ngày nay, Chúa đã ban ân điển cho chúng ta. Ngài đã chuộc chúng ta và gìn giữ chúng ta. Thậm chí Ngài sẽ đem chúng ta lên các từng trời. Nhưng chúng ta cho việc xưng nhận Ngài là một điều xấu hổ! Nếu đó là điều xấu hổ, thì mọi ân điển chúng ta đã nhận được cũng nên bị cho là xấu hổ đối với chúng ta, và chúng ta hãy từ chối tất cả! Chúa đã làm rất nhiều điều cho chúng ta, nhưng chúng ta cảm thấy xấu hổ khi xưng nhận Ngài! Sao lại có thể như vậy được?

Chúng ta nên cảm thấy xấu hổ về những điều như say sưa, rượu chè, phóng đãng, những việc làm tối tăm, tội lỗi và việc ác. Chúa đã giải cứu chúng ta khỏi mọi điều này. Chúng ta nên cảm thấy vinh hiển. Sao chúng ta lại cảm thấy xấu hổ? Xưng nhận Chúa không có gì làm chúng ta xấu hổ. Thật vinh hiển và vui mừng khi xưng nhận Ngài! Chúng ta là những người không bao giờ bị diệt vong, không bao giờ bị Đức Chúa Trời định tội hay phán xét, không bao giờ bị xa cách mặt vinh hiển của Ngài. Chúng ta là những người đi theo Chiên Con và sẽ luôn luôn ở với Ngài (Khải. 14:4). Những người khác đã làm một điều sai lầm khi gieo hạt giống xấu hổ trong chúng ta. Chúng ta nên dạn dĩ đứng lên và nói mình thuộc về Đức Chúa Trời. Chúng ta nên vui mừng và cảm thấy vinh hiển trong Ngài.

Theo bản chất, Phi-e-rơ là một người có ý chí mạnh mẽ. Ông muốn làm cho mình nổi bật giữa các môn đồ và đứng đầu người khác trong mọi sự. Nhưng một ngày kia ông đã chối Chúa và trở nên giống như một con chuột. Khi bị chất vấn, ông rất sợ hãi. Nói theo phương diện loài người, Phi-e-rơ là một “anh hùng”, một nhà lãnh đạo bẩm sinh giữa vòng các môn đồ. Nhưng ông run rẩy thậm chí trước khi người ta đòi mạng sống mình. Ông đã run rẩy và thề thốt khi người ta chỉ mới nói về ông rằng: “Người này từng ở với Jesus người Na-xa-rét”. Điều này thật quá tồi tệ. Tất cả những ai từ chối xưng nhận Chúa đều quá tồi tệ. Phi-e-rơ là người xấu hổ nhất, thật là nhục nhã khi ông chối bỏ Chúa (Mat. 26:69-75).

Tất cả những ai quá nhút nhát không mở miệng mình đều đầy dẫy sự xấu hổ. Những người thật sự cao trọng là những người xưng nhận sự trung thành của mình đối với Jesus người Na-xa-rét, ngay cả khi bị đốt trên giàn hỏa hay bị ném xuống biển. Họ có thể bị đánh đập, thiêu sống, hay ném vào hang sư tử, nhưng họ vẫn công bố: “Tôi thuộc về Jesus người Na-xa-rét”. Đó là điều vinh hiển nhất trên toàn thế giới. Những người xấu hổ nhất là những người hổ thẹn không dám xưng nhận Chúa. Loại người này vô dụng. Thậm chí họ cũng ghét chính mình và xấu hổ về chính mình! Điều xấu hổ nhất là một người khinh chính mình và xấu hổ về những gì mình có.

Vì vậy, chúng ta không nên sợ hãi hay xấu hổ. Tất cả những ai học tập bước theo Chúa nên học xưng nhận Ngài cách dạn dĩ trước mặt loài người. Nếu sự sáng là điều xấu hổ và bóng tối là điều vinh hiển, nếu sự thánh khiết là điều đáng hổ thẹn và tội lỗi là vinh hiển, nếu những điều thuộc linh là đáng xấu hổ và những điều phàm tục là vinh hiển, nếu theo Chúa là điều đáng xấu hổ và theo con người là điều vinh hiển, thì chúng ta thà chọn sự xấu hổ. Chúng ta thà chịu sỉ nhục với Đấng Christ như Môi-se từng chịu, sự sỉ nhục ấy tốt hơn nhiều so với những vinh quang của loài người (Hê. 11:26).

E. Lòng Yêu Chuộng Vinh Quang Của Loài Người

Vì sao những nhà lãnh đạo trong Giăng chương 12 không xưng nhận Chúa? Họ không xưng nhận Chúa vì họ yêu chuộng vinh quang của loài người hơn vinh quang của Đức Chúa Trời. Nhiều người không dám xưng nhận vì họ muốn được cả hai; họ muốn được Đấng Christ, họ cũng muốn được nhà hội. Họ muốn được Đấng Christ, đó là lý do vì sao họ tin Ngài. Nhưng họ cũng muốn được nhà hội, đó là lý do vì sao họ không xưng nhận Ngài. Nếu ai muốn cả hai, người đó sẽ không tuyệt đối theo một bên nào.

Nếu muốn hầu việc Chúa, anh em phải lựa chọn giữa Chúa và nhà hội. Nếu không, không bao giờ anh em là một Cơ Đốc nhân tốt. Anh em phải lựa chọn giữa Chúa và con người. Những nhà lãnh đạo sợ mất sự ưa chuộng của loài người. Họ sợ rằng nếu xưng nhận Chúa, họ sẽ bị đuổi ra khỏi nhà hội. Nhưng ai tuyệt đối lựa chọn Chúa sẽ không sợ bị đuổi ra khỏi nhà hội.

Sau khi anh em tin Chúa, nếu không bị người ta bắt bớ, anh em nên nói: “Chúa ôi, con cảm tạ Ngài”. Nếu họ bắt bớ anh em sau khi anh em mở miệng xưng nhận Ngài, anh em cũng nên nói: “Chúa ôi, con cảm tạ Ngài”. Vì sao lạ vậy? Chúng ta không thể giống như những nhà lãnh đạo ấy vì yêu nhà hội nên đã từ chối không chịu xưng nhận đức tin nơi Chúa Jesus. Nếu mọi người trong hội thánh đều giống như họ thì sẽ không có hội thánh trên đất ngày nay. Nếu Phi-e-rơ đã về nhà và im lặng sau khi tin Chúa, nếu Phao-lô, Lu-ca, Darby và tất cả những người khác đều giữ im lặng sau khi tin và nếu mọi người trong hội thánh cứ im lặng, không dám xưng nhận Chúa, chắc chắn họ sẽ ít gặp rắc rối hơn, nhưng sẽ không có hội thánh trên đất ngày nay!

Một đặc tính của hội thánh là dám tin Chúa. Một đặc tính khác là dám xưng nhận đức tin của mình nơi Ngài. Được cứu không chỉ là tin Chúa Jesus; đó là tin và xưng nhận rằng mình là một tín đồ. Sự xưng nhận rất quan trọng. Đạo Đấng Christ không chỉ được bày tỏ ra qua cách cư xử của người ta nhưng còn qua môi miệng của họ nữa. Môi miệng phải xưng nhận. Một người phải nói: “Tôi là Cơ Đốc nhân”. Cơ Đốc nhân chỉ có hành vi tốt vẫn chưa đủ, họ cũng phải xưng nhận bằng môi miệng mình nữa. Nếu anh em lấy mất môi miệng đi, sẽ không có Đạo Đấng Christ. Kinh Thánh rất sáng tỏ. Tin trong lòng dẫn đến sự công chính và miệng xưng nhận dẫn đến sự cứu rỗi. Đạo Đấng Christ là tin trong lòng và xưng nhận bằng môi miệng.

III. XƯNG NHẬN CHÚA VÀ SỰ XƯNG NHẬN CỦA CHÚA

Chúa phán: “Vì vậy, ai xưng nhận Ta trước mặt loài người, Ta cũng sẽ xưng nhận người đó trước mặt Cha Ta ở trên các từng trời” (Mat. 10:32). Tạ ơn Chúa, nếu chúng ta xưng nhận Ngài hôm nay, vào ngày ấy, Ngài sẽ xưng nhận chúng ta. Chúa phán: “Nhưng ai chối Ta trước mặt loài người, Ta cũng sẽ chối người đó trước mặt Cha Ta ở trên các từng trời” (c. 33). “Nhưng ai chối Ta trước mặt loài người thì sẽ bị chối bỏ trước mặt các thiên sứ của Đức Chúa Trời” (Lu. 12:9). Thật là một sự khác biệt lớn lao! Tất cả những gì chúng ta phải làm là xưng nhận rằng Đấng tuyệt hảo, cao trọng nhất giữa muôn người này là Con Đức Chúa Trời. Khi ấy Ngài sẽ xưng nhận chúng ta trước mặt Cha thiên thượng và các thiên sứ của Đức Chúa Trời. Nếu anh em nghĩ khó có thể xưng nhận một Chúa như vậy trước mặt loài người, Chúa sẽ khó xưng nhận một người như anh em khi Ngài giáng xuống trong vinh quang của Cha. Ngày nay chúng ta đừng lùi lại trong việc xưng nhận Chúa vì sợ loài người (Ês. 51:12). Nếu hôm nay chúng ta thấy khó xưng nhận Jesus Christ, Con của Đức Chúa Trời hằng sống, thì vào ngày ấy, khi Chúa trở lại, Ngài sẽ khó thừa nhận chúng ta trước mặt Cha Ngài và tất cả các thiên sứ vinh hiển. Điều này nghiêm trọng biết bao!

Trên thực tế, xưng nhận Chúa không phải là điều khó. Xưng nhận Chúa trở nên một điều đặc biệt dễ dàng khi chúng ta so sánh sự xưng nhận của mình với việc Ngài xưng nhận chúng ta. Ngài khó xưng nhận chúng ta vì chúng ta là con hoang đàng trở về nhà và trong chúng ta không có gì tốt đẹp cả. Vì Ngài sẽ xưng nhận chúng ta trong tương lai, chúng ta cũng hãy xưng nhận Ngài trước mặt loài người ngày hôm nay cách tốt đẹp.

Nguyện tất cả những anh chị em mới được cứu mạnh dạn xưng nhận Chúa ngay từ đầu. Chúng ta đừng bao giờ tìm cách làm Cơ Đốc nhân thầm lặng.