Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 3

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG BA

SỰ DÂNG MÌNH

Kinh Thánh: Xuất. 28:1-2, 40-41; 29:1-25; Lê. 8:14-28; La. 6:13, 16, 19; 12:1; 1 Cô. 6:19-20; 2 Cô. 5:14-15

Bây giờ chúng ta hãy quay sang vấn đề dâng mình của Cơ Đốc nhân.

Một người có dâng mình hay không tùy thuộc kinh nghiệm cứu rỗi của người ấy có “lành mạnh” hay không. Nếu người ấy xem đức tin của mình nơi Chúa Jesus là một ân huệ dành cho Chúa và đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời là lòng tốt của mình đối với Ngài, thì chúng ta không thể nói với người ấy về sự dâng mình. Tương tự như vậy, chúng ta cũng sẽ làm một việc vô ích khi nói về sự dâng mình với một người cảm thấy mình đang đẩy mạnh sự nghiệp của Đạo Đấng Christ và việc theo đạo của mình là một vinh dự lớn lao cho Đạo Đấng Christ. Những người như vậy không có bước khởi đầu tốt trong đức tin Cơ Đốc. Họ không có một bước khởi đầu tốt đẹp. Không thể mong họ dâng mình được. Chúng ta cần phải nhận biết rằng Chúa ban ân điển và thương xót mình. Chúa yêu chúng ta và cứu rỗi chúng ta. Đó là lý do vì sao chúng ta dâng mọi sự của mình cho Ngài.

Lời dạy dỗ liên quan đến sự dâng mình có thể được tìm thấy trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Nhiều phân đoạn trong Tân Ước, chẳng hạn như La Mã chương 6 và 12, nói về sự dâng mình. Trong Cựu Ước, sự dâng mình đã được đề cập đến thì liên hệ đặc biệt đến A-rôn và gia đình ông. Xuất Ai Cập Ký chương 28 và 29, cùng với Lê-vi Ký chương 8 nói về sự dâng mình của A-rôn và gia đình ông. Mặc dầu sự dâng mình là kinh nghiệm cơ bản đầu tiên trong sự hầu việc Đức Chúa Trời, chúng ta không thấy có nhiều sự dạy dỗ trực tiếp trong Lời Đức Chúa Trời liên quan đến vấn đề này. Để hiểu ý nghĩa của sự dâng mình, chúng ta cần nghiên cứu những câu Kinh Thánh trưng dẫn ở trên.

I. NỀN TẢNG CỦA SỰ DÂNG MÌNH

2 Cô-rin-tô 5:14-15 rõ ràng cho chúng ta thấy quyền năng thúc ép từ tình yêu của Chúa là nền tảng để con cái Đức Chúa Trời sống cho Đấng đã chết và sống lại cho họ. Một người sống cho Chúa vì được tình yêu của Ngài thúc ép mình. Theo nguyên ngữ, chữ thúc ép có thể dịch là “bị đè ép từ mọi phía”, tức là bị giam giữ chặt chẽ bốn bên. Từ ngữ ấy có nghĩa là bị trói chặt và bao phủ. Tình yêu đã cột trói chúng ta, chúng ta không thể bỏ chạy. Khi một người đang yêu, người ấy cảm thấy bị giam cầm. Chúng ta bị Ngài cột trói và không có lối thoát. Ngài đã chết cho chúng ta, hôm nay chúng ta nên sống cho Ngài. Vì vậy, tình yêu là nền tảng của sự dâng mình. Một người dâng chính mình cho Chúa vì tình yêu của Ngài. Không ai có thể dâng mình cho Chúa nếu trước hết không chạm được tình yêu của Ngài. Một người phải chạm đến tình yêu của Ngài trước khi có thể dâng mình cho Ngài. Khi một người chạm đến tình yêu của Chúa, tự khắc sau đó người ấy sẽ dâng mình cho Ngài.

Sự dâng mình có nền tảng là tình yêu của Chúa. Nhưng điều ấy cũng dựa trên quyền hạn của Ngài nữa. Đó là lẽ thật được bày tỏ trong 1 Cô-rin-tô 6:19-20: “Anh em không thuộc về chính mình... Vì anh em đã được mua với một giá rồi”. Chúa chúng ta đã ban chính mạng sống của Ngài cho chúng ta, thậm chí Ngài đã trở nên giá chuộc mua chúng ta lại cho chính Ngài. Chúng ta là những người được Chúa mua. Vì Chúa đã cứu chuộc chúng ta, nên chúng ta bằng lòng bỏ quyền tự do của mình vì Ngài. Chúng ta không còn thuộc về chính mình mà thuộc về Chúa. Chúng ta phải tôn vinh Đức Chúa Trời trong thân thể mình vì chúng ta không thuộc về chính mình. Chúa đã mua chúng ta với một giá [cao]. Huyết Chúa đổ trên thập tự giá là giá mà Ngài đã trả. Vì vậy, theo quyền hạn của Chúa, chúng ta thuộc về Ngài.

Chúng ta phải sáng tỏ rằng mình đã được Chúa mua rồi. Ngài đã mua chúng ta với giá cao nhất. Ngài đã mua chúng ta, không phải bằng bạc hay vàng, nhưng bằng chính huyết Ngài. Ở đây chúng ta thấy tình yêu của Chúa cũng như quyền hạn của Ngài. Chúng ta hầu việc Chúa vì Ngài yêu chúng ta, chúng ta theo Ngài vì Ngài có quyền trên chúng ta. Quyền hạn [Chúa] có được do sự chuộc mua của Ngài thúc ép chúng ta dâng mình cho Ngài. Tình yêu đến từ sự cứu chuộc cũng thúc ép chúng ta dâng chính mình cho Ngài. Nền tảng của sự dâng mình là quyền hạn của Ngài cũng như là tình yêu của Ngài. Đó là quyền hợp pháp và đó là tình yêu vượt trổi mọi tình yêu tha thiết của con người. Đây là hai lý do khiến chúng ta phải dâng mình cho Chúa.

II. Ý NGHĨA CỦA SỰ DÂNG MÌNH

Chỉ được tình yêu thúc ép hay chỉ nhận biết quyền hợp pháp của Ngài không tạo nên sự dâng mình. Sau khi một người được tình yêu của Chúa thúc ép và đã nhận biết quyền hạn của Ngài, người ấy nên tiến xa hơn một bước nữa. Bước này sẽ đem người ấy đến một vị trí mới. Qua sự thúc ép của Chúa và dựa trên sự chuộc mua của Ngài, chúng ta phân rẽ chính mình khỏi mọi điều khác. Từ nay về sau, chúng ta sống vì Chúa và sống cho Chúa. Đó là sự dâng mình. Trong một vài trường hợp của Cựu Ước, Bản Kinh Thánh Tiếng Hoa (Chinese Union Version) dịch từ ngữ sự dâng mình là “tiếp nhận sự phục vụ thánh”. Tiếp nhận sự phục vụ thánh là nhận chức vụ hầu việc Đức Chúa Trời. Đó là sự phục vụ thánh. Đó là sự dâng mình. Sự dâng mình là nhận lãnh chức vụ hầu việc Đức Chúa Trời. Đó là thưa với Chúa: “Hôm nay con sẽ biệt riêng chính mình con khỏi mọi sự để hầu việc Ngài, vì Ngài đã yêu con”.

III. MỘT NGƯỜI DÂNG MÌNH

Chúng ta hãy xem Xuất Ai Cập Ký 28:1-2 và 29:1, 4, 9-10.

Sau khi đọc những câu này, chúng ta thấy sự dâng mình là một điều rất đặc biệt. Israel là một dân tộc được Đức Chúa Trời chọn lựa (Xuất. 19:5-6), nhưng dân tộc này không trở nên một dân tộc dâng mình cho Chúa. Có mười hai chi phái giữa vòng dân Israel, nhưng không phải tất cả mười hai chi phái đều nhận được sự phục vụ thánh. Chi phái Lê-vi là một trong mười hai chi phái. Đó là chi phái được Đức Chúa Trời lựa chọn (Dân. 3:11-13), nhưng họ không phải là một chi phái dâng mình. Giữa vòng nhiều người Lê-vi, chỉ có gia đình A-rôn nhận được sự phục vụ thánh. Không phải tất cả những người Israel đều nhận được sự phục vụ thánh, ngay cả mọi người Lê-vi cũng vậy. Chỉ có gia đình A-rôn nhận được sự phục vụ thánh. Để có thể dâng mình, một người phải thuộc về gia đình này. Nếu ai không phải là thành viên của gia đình này, người đó không thể dâng mình. Chỉ có những thành viên của gia đình này, là gia đình A-rôn, mới đủ điều kiện làm thầy tế lễ, chỉ có họ mới dâng mình được.

Tạ ơn Đức Chúa Trời, ngày nay chúng ta là những thành viên trong gia đình ấy. Những người tin Chúa đều là thành viên của gia đình này. Tất cả những ai được cứu nhờ ân điển đều là những thầy tế lễ (Khải. 1:5-6). Đức Chúa Trời đã lựa chọn chúng ta làm những thầy tế lễ. Ban đầu, chỉ có các thành viên của gia đình A-rôn mới có thể dâng mình, nếu ai khác đến gần, người đó phải bị giết chết (Dân. 18:7). Chúng ta cần nhớ chỉ có những ai được Đức Chúa Trời lựa chọn làm thầy tế lễ mới có thể dâng mình. Do đó, chỉ có những thành viên của gia đình này mới có thể dâng mình. Ngày nay Đức Chúa Trời đã lựa chọn chúng ta làm thầy tế lễ, vì vậy, chúng ta là các thành viên của gia đình này. Do đó, chúng ta đủ điều kiện để dâng mình.

Ở đây chúng ta thấy người ta không dâng mình vì họ đã lựa chọn Đức Chúa Trời. Trái lại, Đức Chúa Trời là Đấng lựa chọn và kêu gọi người ta, sau đó, họ mới dâng mình cho Ngài. Những ai nghĩ rằng mình đang làm ơn cho Đức Chúa Trời bằng cách từ bỏ mọi sự chỉ là những người ngoại cuộc, họ chưa dâng mình gì cả. Chúng ta phải nhận biết rằng những gì mình hầu việc Đức Chúa Trời không phải là ân huệ hay lòng tốt của mình dành cho Ngài. Đó không phải là vấn đề dâng mình cho công việc Đức Chúa Trời, nhưng là vấn đề Đức Chúa Trời đầy ân điển đối với chúng ta và cho chúng ta được dự phần trong công việc Ngài. Chính Đức Chúa Trời là Đấng ban vinh quang và vẻ đẹp cho chúng ta. Kinh Thánh cho biết y phục thánh của thầy tế lễ là để họ được vinh hiển và đẹp đẽ (Xuất. 28:2). Sự dâng mình là Đức Chúa Trời ban cho chúng ta vinh quang và vẻ đẹp, ấy là Đức Chúa Trời đã kêu gọi chúng ta vào trong sự hầu việc Ngài. Nếu có hãnh diện, chúng ta phải hãnh diện nơi Chúa kỳ diệu của mình. Không có gì tuyệt vời cho Chúa khi có những đầy tớ như chúng ta. Điều tuyệt vời là chúng ta có được một Chúa như vậy! Chúng ta phải thấy sự dâng mình là kết quả của việc được lựa chọn. Hầu việc Đức Chúa Trời là một vinh dự cho chúng ta. Chúng ta không tôn cao Đức Chúa Trời như thể mình đã hi sinh điều gì cho Ngài hay như thể tự chúng ta có vinh quang gì. Sự dâng mình là Đức Chúa Trời ban vinh quang cho chúng ta. Chúng ta nên phủ phục trước mặt Ngài và nói: “Cảm tạ Ngài vì con được hầu việc Ngài phần nào. Có rất nhiều người trên thế giới này, nhưng con được lựa chọn để được dự phần trong sự hầu việc Ngài!” Dâng mình là vinh dự của chúng ta, chứ không phải sự hi sinh của chúng ta. Đúng là cần hi sinh những điều lớn lao nhất, nhưng chúng ta không cảm thấy mình hi sinh trong sự dâng mình. Chúng ta chỉ đầy dẫy cảm nhận về vinh quang của Đức Chúa Trời.

IV. CÁCH DÂNG MÌNH

Lê-vi Ký 8:14-28 nói về một con bò đực, hai con chiên đực và một giỏ bánh không men. Con bò đực dành cho của lễ chuộc tội, con chiên đực thứ nhất dành cho của lễ thiêu, con chiên đực thứ nhì và giỏ bánh không men dành cho của lễ dâng mình.

A. Của Lễ Chuộc Tội

Để nhận được sự phục vụ thánh trước mặt Đức Chúa Trời, tức là để dâng chính mình cho Ngài, điều đầu tiên cần phải quan tâm là sự giải hòa (vãn hồi) vì tội lỗi. Chỉ có một người được cứu, một người thuộc về Chúa mới có thể dâng mình. Của lễ chuộc tội là nền tảng của sự dâng mình.

B. Của Lễ Thiêu

Tiếp theo, chúng ta thấy hai con chiên đực. Chúng ta cần nghiên cứu kỹ Lê-vi Ký 8:18-28. Một con chiên đực dùng làm của lễ thiêu, nó phải bị đốt đi. Con chiên đực thứ hai dùng làm của lễ dâng mình, nó làm cho A-rôn có thể hầu việc Đức Chúa Trời.

Của lễ thiêu là gì? Của lễ thiêu là của lễ bị thiêu đốt hoàn toàn. Thầy tế lễ không thể ăn thịt của lễ thiêu. Tất cả thịt trong của lễ thiêu đều bị đốt cháy hoàn toàn. Nan đề tội của chúng ta được giải quyết do của lễ chuộc tội, nhưng của lễ thiêu làm cho chúng ta được Đức Chúa Trời chấp nhận. Chúa Jesus mang tội lỗi của chúng ta trên thập tự giá. Điều này chỉ về công tác của Ngài như của lễ chuộc tội. Đồng thời, đang khi Chúa Jesus ở trên thập tự giá, bức màn bị xé ra từ trên xuống dưới, đem chúng ta vào Nơi Chí Thánh. Đó là công tác của Ngài như của lễ thiêu. Của lễ chuộc tội và của lễ thiêu bắt đầu cùng một chỗ, nhưng đích điểm của chúng khác nhau. Chúng khởi đầu từ vị trí của tội nhân. Của lễ chuộc tội dừng lại ở sự giải hòa (vãn hồi) vì tội lỗi, nhưng của lễ thiêu đem tội nhân đi xa hơn bằng cách làm cho người ấy được Đức Chúa Trời chấp nhận. Của lễ thiêu là của lễ làm cho tội nhân được chấp nhận trong Đấng Yêu Dấu. Của lễ này tiến xa hơn của lễ chuộc tội. Của lễ thiêu là hương thơm ngọt ngào của Chúa Jesus trước mặt Đức Chúa Trời, làm cho Ngài được Đức Chúa Trời chấp nhận. Ngày nay khi chúng ta dâng Ngài lên cho Đức Chúa Trời, chúng ta cũng được Đức Chúa Trời chấp nhận. Không những chúng ta được tha thứ nhờ của lễ chuộc tội nhưng cũng được chấp nhận nhờ Chúa Jesus.

C. Của Lễ Dâng Mình

1. Sự Rảy Huyết

Sau khi con chiên đực thứ nhất bị giết, con chiên đực thứ hai theo sau. Người ta làm gì với con chiên đực thứ hai sau khi nó bị giết? Điều đầu tiên là bôi huyết lên trái tai bên phải của A-rôn và các con trai ông, trên ngón cái bàn tay phải của họ và ngón cái bàn chân phải của họ. Điều này có nghĩa là vì Đức Chúa Trời đã chấp nhận chúng ta trong Đấng Christ, chúng ta nên nhận biết sự phân rẽ của huyết trên tai, tay và chân mình là [để chúng] hoàn toàn dành cho Đức Chúa Trời. Chúng ta nên tuyên bố rằng đôi tai, tay và chân chúng ta đều hoàn toàn thuộc về Đức Chúa Trời. Vì sự cứu chuộc, tai chúng ta, vốn được tạo nên để nghe, bây giờ nên dùng để nghe cho Đức Chúa Trời; tay chúng ta, vốn được tạo dựng để làm việc, bây giờ nên làm việc cho Đức Chúa Trời; chân chúng ta, vốn được tạo dựng để bước đi, bây giờ nên bước đi cho Đức Chúa Trời. Chúng ta bôi huyết lên trái tai bên phải, ngón cái của bàn tay phải và ngón chân cái của bàn chân phải. Điều này có nghĩa là tất cả đôi tai, tay và chân chúng ta đều được Chúa mua. Chúng ta nên nói với Chúa: “Chúa ôi, vì sự cứu chuộc của Ngài, từ nay trở đi, con không còn kể đôi tai hay hai bàn tay và hai bàn chân của con là thuộc riêng về con nữa. Vì Ngài đã chuộc con, Chúa ôi, toàn bản thể con từ nay thuộc về Ngài, không còn thuộc về con”.

Huyết là dấu hiệu của quyền sở hữu. Huyết cũng tượng trưng cho tình yêu. Cả “giá” được nói đến trong 1 Cô-rin-tô chương 6 và “tình yêu” được nói đến trong 2 Cô-rin-tô chương 5 đều chỉ về huyết này. Vì có huyết, tình yêu, và quyền sở hữu, nên toàn bản thể của chúng ta không thuộc riêng về chính mình nữa. Chúa đã đổ huyết Ngài, và chúng ta phải công nhận quyền đúng đắn của huyết này trên mình. Vì Chúa yêu chúng ta, nên chúng ta xưng nhận rằng toàn bản thể của chúng ta thuộc về một mình Ngài.

2. Của Lễ Đưa Qua Đưa Lại

Sau khi rảy huyết, có của lễ đưa qua đưa lại. Chúng ta phải nhớ khi con chiên đực thứ hai bị giết, huyết nó được bôi lên tai, ngón tay cái và ngón chân cái. Đó vẫn không phải là sự dâng mình. Đó chỉ mới là nền tảng của sự dâng mình. Sự rảy huyết chỉ là thừa nhận tình yêu và quyền hạn. Điều này làm cho chúng ta đủ điều kiện để dâng mình, nhưng sự dâng mình thật sự đến sau điều này.

Sau khi con chiên đực thứ hai bị giết và huyết nó được rảy ra, mỡ và vai bên phải (đùi bên phải) được lấy đi và một cái bánh nhỏ không men, một cái bánh nhỏ có dầu, và một cái bánh xốp cũng được lấy ra khỏi giỏ. Tất cả những điều này tượng trưng cho hai phương diện của Chúa Jesus. Vai là phần mạnh mẽ, bày tỏ cho chúng ta phương diện thần thượng của Chúa Jesus. Mỡ rất phong phú, tượng trưng cho phương diện vinh quang của Đức Chúa Trời. Bánh làm bằng sự sống thực vật, bày tỏ cho chúng ta nhân tính cao cả nhất của Ngài. Ngài là một con người hoàn hảo, không có men và không có tì vết. Ngài đầy dẫy dầu xức, đầy dẫy Thánh Linh. Giống như bánh xốp, bản chất của Ngài, cảm xúc trong lòng Ngài, và nhận thức thuộc linh của Ngài đều tốt đẹp, mềm mại và tinh tế, đầy dẫy cảm xúc và lòng thương xót. Tất cả những điều này đều được đặt trong tay A-rôn, là người cầm lấy và đưa qua đưa lại trước mặt Chúa. Sau đó, mọi điều này được thiêu đốt chung với của lễ thiêu. Đó là sự dâng mình.

Chúng ta cần phải giải thích một ít ở đây. Từ ngữ Hê-bơ-rơ dâng mình có nghĩa là “có hai tay đầy”. Cả bản dịch của Darby và Thánh Kinh Phù Dẫn của Young đều nói đến ý nghĩa này. Ban đầu đôi tay trống rỗng, bây giờ chúng đầy dẫy. Khi đôi tay của A-rôn đầy dẫy nhiều điều, ông được đầy dẫy Chúa và có sự dâng mình. Khi tay A-rôn trống không, không có sự dâng mình. Khi tay A-rôn đầy dẫy và không còn có thể nắm lấy điều gì ngoài ra Chúa, khi ấy có sự dâng mình.

Như vậy, sự dâng mình có nghĩa là gì? Đức Chúa Trời đòi hỏi gia đình A-rôn hầu việc Ngài như những thầy tế lễ. Nhưng A-rôn không thể đến cách tự phụ. Trước hết, tội lỗi ông phải được giải quyết, sau đó ông phải được chấp nhận trong Đấng Christ. Đôi tay ông (chỉ về công việc) phải đầy dẫy Đấng Christ. Ông phải không có gì cả ngoài ra Đấng Christ. Chỉ khi ấy mới có sự dâng mình. Sự dâng mình là gì? Nói cách đơn giản, sự dâng mình là như Phao-lô đã nói: “Vì vậy, các anh em ơi, do sự thương xót của Đức Chúa Trời tôi nài khuyên anh em dâng thân thể mình làm một sinh tế sống, thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, đó là sự phụng sự phải lẽ của các anh em” (La. 12:1).

Trước mặt Chúa, chúng ta cần thấy rằng trong đời sống này, chỉ có một con đường cho chúng ta, đó là hầu việc Đức Chúa Trời. Chúng ta không có con đường nào khác. Hầu việc Đức Chúa Trời là con đường duy nhất của chúng ta. Để hầu việc Đức Chúa Trời, chúng ta phải dâng cả thân thể mình cho Ngài. Từ đây về sau, tai chúng ta sẽ nghe cho Chúa, tay chúng ta sẽ làm việc cho Chúa, và chân chúng ta sẽ chạy cho Ngài. Đôi tai chúng ta chỉ lắng nghe lời Chúa, hai bàn tay chúng ta chỉ làm công việc Chúa và đôi chân chúng ta chỉ bước đi trên con đường của Chúa. Chúng ta ở đây chỉ để hầu việc Đức Chúa Trời. Chúng ta đã dâng mình như một của lễ, một sinh tế, chúng ta đã dâng mọi sự của mình cho Ngài. Hơn nữa, hai tay chúng ta sẽ đầy dẫy Đấng Christ, chúng sẽ tôn cao Ngài và bày tỏ Ngài. Đó là tất cả ý nghĩa của sự dâng mình. Chỉ khi nào chúng ta làm như vậy, Đức Chúa Trời mới phán: “Đó là sự dâng mình”. Tình trạng dầm thấm Đấng Christ như vậy là điều Đức Chúa Trời gọi là sự dâng mình.

Sự dâng mình nghĩa là chúng ta đã chạm đến tình yêu của Chúa và nhận biết thẩm quyền của Ngài. Vì những lý do ấy, chúng ta có thể đến với Đức Chúa Trời và nài xin đặc ân được phục vụ. Đó không chỉ là vấn đề Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta nhưng là vấn đề chúng ta dâng chính mình để phục vụ. Chúng ta nên nói: “Đức Chúa Trời ôi! con thuộc về Ngài. Ngài đã mua con. Trong quá khứ, con ở dưới bàn Ngài, mong được ăn những mẩu bánh vụn rớt xuống, nhưng từ nay trở đi, con muốn hầu việc Ngài. Hôm nay con chọn lựa hầu việc Ngài. Con đã được chấp nhận trong Chúa. Nguyện con cũng được ban cho một phần nhỏ trong công tác lớn lao để phục vụ Ngài. Xin thương xót con để con có phần trong sự hầu việc Ngài. Khi ban sự cứu rỗi cho nhiều người, Ngài không bỏ qua con hay từ chối con, Ngài đã cứu con. Bây giờ xin ban cho con một phần giữa vòng nhiều người hầu việc Ngài, xin đừng từ khước con”.

Đó là cách anh em dâng chính mình cho Chúa. Mọi sự đều vì Đấng Christ và chỉ vì một mình Ngài. Khi dâng chính mình cho Ngài như vậy, anh em có sự dâng mình. Đó là điều La Mã chương 12 gọi là dâng thân thể của chúng ta. La Mã chương 6 nói về sự dâng hiến các chi thể. Điều này cũng giống sự rảy huyết nơi tai, bàn tay và bàn chân. La Mã chương 12 nói về sự dâng hiến toàn thân thể. Đó là đầy dẫy Đấng Christ ở hai bàn tay. Điều này liên kết Cựu Ước với Tân Ước một cách hoàn hảo.

V. MỤC TIÊU CỦA SỰ DÂNG MÌNH

Mục tiêu của sự dâng mình không phải để trở nên một người giảng đạo hay làm việc cho Ngài. Mục tiêu của sự dâng mình là để phục vụ Ngài. Kết quả của sự dâng mình là phục vụ. Trong nguyên ngữ, chữ phục vụ có nghĩa là “chầu chực, hầu việc”. Điều này nghĩa là một người chuẩn bị sẵn để “chầu chực”. Chúng ta phải nhớ rằng mục tiêu của sự dâng mình là “chầu chực” Đức Chúa Trời. “Chầu chực” một người nào đó có thể không phải một công việc nặng nhọc. Chầu chực Đức Chúa Trời có nghĩa là anh em đứng khi Ngài muốn anh em đứng. Nếu Ngài muốn di chuyển anh em qua một bên, anh em để Ngài di chuyển mình qua một bên, nếu Ngài muốn anh em chạy, thì anh em chạy. Đó là ý nghĩa của sự “chầu chực” Ngài.

Đức Chúa Trời đòi hỏi tất cả các Cơ Đốc nhân dâng thân thể mình để “chầu chực” Ngài. Điều này không nhất thiết có nghĩa là Ngài muốn anh em đứng tại bục giảng hay rao giảng phúc-âm ở một nơi xa xôi, mà có nghĩa là “chầu chực” Ngài. Nếu Đức Chúa Trời sai một người nào đó lên bục giảng, người đó không có sự lựa chọn nào khác hơn là phải giảng. Nếu Đức Chúa Trời sai một người nào đó đến những miền đất xa xôi, người ấy không có sự lựa chọn nào khác hơn là phải ra đi. Trọn thì giờ của chúng ta dành cho Đức Chúa Trời, nhưng công tác chúng ta làm thì uyển chuyển. Mọi người nên “chầu chực” Đức Chúa Trời, nhưng công tác cụ thể mà một người nên tham gia thì uyển chuyển. Chúng ta phải học “chầu chực” Đức Chúa Trời. Một người dâng thân thể là để hầu việc Ngài.

Hễ là Cơ Đốc nhân, chúng ta phải hầu việc Đức Chúa Trời suốt cuộc đời mình. Ngay khi một người dâng chính mình, người ấy phải nhận thức rằng từ thời điểm đó, sự đòi hỏi của Đức Chúa Trời phải chiếm chỗ ưu tiên. Hầu việc Đức Chúa Trời trở nên sứ mạng suốt đời của chúng ta. Nguyện Đức Chúa Trời đầy ân điển đối với chúng ta và bày tỏ cho chúng ta thấy phục vụ Ngài là nhiệm vụ thích đáng của chúng ta. Chúng ta nên bày tỏ cho mọi tín đồ thấy từ nay về sau chúng ta là những người hầu việc Chúa. Chúng ta phải nhận thức rằng là Cơ Đốc nhân, chúng ta không còn có thể bê bối trong bất cứ điều gì cả. Tôi không có ý nói rằng chúng ta không nên trung tín và tận tụy đối với nghề nghiệp của mình hay nói rằng chúng ta có thể ở dưng. Tôi không có ý nói như vậy. Chúng ta vẫn cần phải trung tín và nghiêm túc trong nghề nghiệp của mình. Nhưng trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta phải thấy toàn thể đời sống mình hướng về sự hầu việc Đức Chúa Trời. Chúng ta làm mọi sự vì mục đích vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời và làm đẹp lòng Ngài. Đó là thực tại của sự dâng mình.

Dâng mình không phải là chúng ta cho Đức Chúa Trời được bao nhiêu. Ấy là được Đức Chúa Trời chấp nhận và được Ngài ban cho vinh dự hầu việc Ngài. Sự dâng mình chỉ dành riêng cho Cơ Đốc nhân mà thôi, không phải cho mọi người. Chỉ những người được cứu, những người thuộc về Chúa mới có thể dâng mình. Dâng mình nghĩa là chúng ta nói: “Chúa ôi, Ngài ban cho con cơ hội và quyền được đến trước mặt Ngài và hầu việc Ngài”. Đó là nói: “Chúa ôi, con thuộc về Ngài. Đôi tai con đã được Ngài mua bằng huyết, chúng thuộc về Ngài. Đôi tay con đã được Ngài mua bằng huyết, chúng thuộc về Ngài. Đôi chân con đã được Ngài mua bằng huyết, chúng thuộc về Ngài. Từ nay trở đi, con không còn dùng những chi thể ấy cho chính mình nữa”.

Chúng ta không nài nỉ người khác dâng mình. Thay vào đó, chúng ta nói với họ rằng con đường đã sẵn sàng để họ dâng mình. Có một cách để hầu việc Đức Chúa Trời là Chúa của vạn quân. Chúng ta phải sáng tỏ rằng mình ở đây để hầu việc Chúa của vạn quân. Chúng ta hoàn toàn sai lầm khi nghĩ rằng dâng mình là ban một ân huệ cho Đức Chúa Trời.

Khải thị trong Cựu Ước rất sáng tỏ. Một người chỉ có thể dâng mình cho Đức Chúa Trời khi được Ngài chấp thuận. Tân Ước cũng lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên chúng ta dâng mình. Đức Chúa Trời rất yêu thương chúng ta, vì vậy, chúng ta phải dâng mình. Đó là sự hầu việc hợp lý hơn hết. Đây không phải là vấn đề xin ân huệ, nhưng là điều hợp lý hơn hết, điều tự nhiên hơn hết mà chúng ta cần phải làm. Sự dâng mình không do chúng ta muốn hay không. Nhờ ân điển dồi dào của Đức Chúa Trời mà chúng ta có thể dâng mình. Chúng ta phải thấy rằng có quyền làm đầy tớ của Đức Chúa Trời là vinh dự lớn lao nhất trong đời mình. Được cứu thật là một điều vui mừng cho chúng ta. Được tham dự hầu việc Đức Chúa Trời lại là một điều vui mừng sâu xa hơn nhiều! Chúng ta nghĩ Đức Chúa Trời của mình là ai? Chúng ta cần phải nhìn thấy sự vĩ đại và vinh quang của Ngài. Chỉ khi ấy chúng ta mới thấy ý nghĩa và vinh dự lớn lao của công tác phục vụ này! Thật là một điều lớn lao khi chúng ta nhận được ân điển Ngài và được kể là xứng đáng hầu việc Ngài!