Thông tin sách

Bài Học Gây Dựng Tín Đồ Mới - Tập 1

Tác giả: Watchman Nee
Dịch từ bản tiếng Anh: Messages for Building Up New Believers, Vol. 1
ISBN: 0-7363-0976-4
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 2

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG HAI

KẾT LIỄU QUÁ KHỨ

Hôm nay, chúng ta bàn đến vấn đề làm thế nào giải quyết quá khứ sau khi tin Chúa. Sau khi tin Chúa, một người vẫn mang theo mình nhiều điều thuộc quá khứ. Người ấy nên kết liễu những điều đó như thế nào?

I. SỰ DẠY DỖ CỦA KINH THÁNH LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG GÌ MỘT NGƯỜI NÊN LÀM SAU KHI ĐƯỢC CỨU

Toàn bộ Kinh Thánh, Cựu Ước và Tân Ước, đặc biệt là Tân Ước, cho thấy Đức Chúa Trời không chú ý đến những gì một người làm trước khi tin Chúa. Nếu thử tìm một câu từ Ma-thi-ơ chương 1 đến Khải-thị chương 22 nói về cách các tín đồ nên kết liễu quá khứ của mình, anh em sẽ thấy thật khó tìm được một câu nào bàn về đề tài ấy. Ngay cả các Thư tín, là phần bàn đến những hành vi sai quấy của chúng ta trong quá khứ, chính yếu cũng nói về những gì chúng ta nên làm từ nay về sau, chứ không nói đến những gì chúng ta nên làm đối với quá khứ của mình. Các sách Ê-phê-sô, Cô-lô-se và Tê-sa-lô-ni-ca thứ nhất đều đề cập đến một điều gì đó về quá khứ của chúng ta, nhưng không bảo chúng ta nên kết liễu quá khứ của mình cách nào; các Thư tín ấy chỉ bày tỏ cho chúng ta biết nên tiến tới như thế nào.

Anh em có nhớ một người đã hỏi Giăng Báp-tít: “Như vậy, chúng tôi phải làm gì?” Giăng đáp: “Ai có hai áo ngoài, hãy chia với người không có cái nào, ai có thức ăn cũng hãy làm như vậy”. Ông không nói về quá khứ nhưng nói về tương lai của họ. Một số người thâu thuế đến gặp Giăng và hỏi họ phải làm gì. Giăng đáp: “Đừng đòi tiền nhiều hơn ngoài số các anh được lệnh phải thâu”. Một số người lính cũng hỏi: “Chúng tôi phải làm gì?” Giăng trả lời: “Đừng dùng bạo lực để đoạt gì của ai, cũng đừng nhận gì do vu cáo, và hãy hài lòng về tiền lương của mình” (Lu. 3:10-14). Điều này cho chúng ta thấy Giăng, người rao giảng về sự ăn năn, đã nhấn mạnh đến những gì chúng ta nên làm sau đó, chứ không nhấn mạnh đến những gì thuộc về quá khứ.

Chúng ta cũng hãy xem các Thư tín của Phao-lô. Ông luôn luôn nhấn mạnh đến những gì chúng ta nên làm trong tương lai, chứ không nhấn mạnh đến những gì chúng ta nên làm liên quan đến quá khứ, vì mọi điều thuộc quá khứ đã được bao phủ dưới huyết báu [của Chúa]. Nếu sai lầm một chút về điều này, chúng ta sẽ làm hư hoại phúc-âm; chúng ta sẽ làm hư hoại con đường của Chúa, con đường ăn năn và con đường bồi thường. Chúng ta phải bàn đến đề tài này cách cẩn thận.

“Hay anh em không biết rằng người không công chính sẽ không thừa hưởng vương quốc của Đức Chúa Trời sao? Đừng để bị lừa dối: kẻ gian dâm, thờ hình tượng, ngoại tình, đồng tính luyến ái nam, đồng tính luyến ái nữ, trộm cắp, tham lam, say sưa, hay chửi rủa, lường gạt đều sẽ không được thừa hưởng vương quốc của Đức Chúa Trời. Một vài người trong anh em trước kia cũng vậy” (1 Cô. 6:9-11a). Ở đây, Phao-lô nói về cách ăn ở trong quá khứ của các tín đồ, nhưng ông không nói họ nên xử lý điều đó như thế nào. “Nhưng anh em đã được rửa sạch, được thánh hóa, được xưng công chính trong danh Chúa Jesus Christ và trong Linh của Đức Chúa Trời chúng ta rồi” (1 Cô. 6:11b). Ở đây không nhấn mạnh về việc xử lý quá khứ, vì chúng ta có một Đấng Cứu Rỗi đã giải quyết cả quá khứ của chúng ta. Ngày nay trọng tâm đặt nơi những gì chúng ta nên làm từ bây giờ trở đi. Một người được cứu đã được rửa sạch, thánh hóa và xưng công chính rồi.

“Còn anh em, dầu đã chết trong những sự vi phạm và tội lỗi mình, trong đó anh em từng bước đi theo thời đại của thế gian này, theo kẻ cầm quyền của uy quyền trên không trung, của linh hiện đang hành động trong các con cái của sự không vâng phục. Chúng ta trước kia cũng đều ăn ở giữa vòng họ, theo dục vọng của xác thịt mình, làm theo những điều xác thịt và tư tưởng mình ưa muốn, làm con của sự thịnh nộ theo bản tính thiên nhiên như những người khác; nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì tình yêu lớn lao mà bởi đó Ngài yêu chúng ta, thậm chí đang khi chúng ta chết trong các vi phạm của mình, nên đã làm cho chúng ta sống động cùng với Đấng Christ” (Êph. 2:1-5). Những câu này không chỉ cho chúng ta thấy cách kết liễu những điều thuộc xác thịt. Chỉ có một sự kết liễu, đó là Chúa của chúng ta đã kết liễu mọi sự vì chúng ta, dựa trên tình yêu lớn lao mà Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta và lòng thương xót rộng lớn của Ngài.

Ê-phê-sô 4:17-24 cũng nói về tình trạng quá khứ của chúng ta. “Vì vậy, đây là điều tôi nói và làm chứng trong Chúa, anh em không còn bước đi như dân ngoại nữa, [là người] bước đi theo sự hư không của tâm trí mình, bị tối tăm trong sự hiểu biết của mình, xa lạ với sự sống của Đức Chúa Trời vì sự ngu muội trong họ do lòng cứng cỏi của họ. Họ đã chai lì, gieo mình vào sự buông tuồng, ham làm mọi điều ô uế không hề chán... anh em đã lột bỏ người cũ về cách sống trước kia, là con người cũ, bị bại hoại do sự lừa dối của tư dục, lại phải đổi mới trong linh của tâm trí mình và mặc lấy người mới, là người được tạo dựng theo Đức Chúa Trời trong sự công chính và thánh khiết của thực tại”.

“Vì vậy, anh em đã lột bỏ sự dối trá” (Êph. 4:25a). Câu này chỉ về những điều từ nay về sau, chứ không bảo chúng ta cách xử lý những điều giả dối trong quá khứ, nhưng từ nay về sau, chúng ta không nên ở trong sự dối trá. Ngày nay, chúng ta phải “nói thật với người lân cận mình... Khi giận, đừng phạm tội, đừng căm giận cho đến khi mặt trời lặn, cũng đừng nhường chỗ ma quỉ” (Êph. 4:25b-27). Những câu này không chỉ về quá khứ, nhưng chỉ về tương lai. “Ai trộm cắp đừng trộm cắp nữa” (Êph. 4:28a). Phao-lô không nói rằng ai trộm cắp cần trả lại những gì mình đã trộm cắp. Ông vẫn nhấn mạnh đến từ nay về sau. Những gì đã trộm cắp trong quá khứ là một vấn đề khác. “Nhưng thà lao khổ, lấy chính tay mình làm những việc đáng tôn trọng... Đừng để một lời bại hoại nào ra từ miệng anh em, nhưng khi cần, chỉ nói những lời lành để gây dựng, đem ân điển đến cho người nghe. Đừng làm Thánh Linh của Đức Chúa Trời buồn... Phải cất bỏ khỏi anh em mọi điều cay đắng, tức giận, thịnh nộ, la hét, nói xấu và mọi điều gian ác” (Êph. 4:28b-31).

“Không nên nói đến giữa anh em về sự gian dâm, mọi sự ô uế và tham lam, như thế mới xứng hợp với các thánh đồ, và cũng đừng nói lời tục tĩu, rồ dại, hay giễu cợt ranh mãnh, bẩn thỉu là điều không xứng đáng, nhưng thà cảm tạ thì hơn” (Êph. 5:3-4). Những lời này cũng theo cùng một nguyên tắc, nói về những vấn đề sau khi một người đã tin Chúa. Những vấn đề ấy không chỉ về việc kết liễu những điều người ấy đã làm trước khi tin Chúa.

Sau khi đọc tất cả các Thư tín, chúng ta thấy một lẽ thật kỳ diệu: Đức Chúa Trời chỉ quan tâm đến những gì một người làm sau khi tin Chúa. Ngài không quan tâm đến những điều người ta đã làm trong quá khứ. Ngài không bảo chúng ta cần phải xử lý những việc ấy ra sao. Đó là một nguyên tắc cơ bản.

Nhiều người ở trong ách nô lệ vì họ chấp nhận một phúc-âm sai lầm. Phúc-âm ấy nhấn mạnh quá nhiều đến việc xử lý quá khứ của người ta. Điều này không có nghĩa là chúng ta không cần giải quyết quá khứ của mình. Một số điều trong quá khứ phải được xử lý, nhưng sự xử lý đó không phải là nền tảng để chúng ta tiến lên. Đức Chúa Trời luôn luôn hướng sự chú ý của chúng ta đến sự thật rằng các tội lỗi của chúng ta trong quá khứ đều ở dưới huyết. Chúng ta hoàn toàn được tha thứ và được cứu vì Chúa Jesus đã chết cho chúng ta. Sự cứu rỗi của chúng ta không dựa trên cách chúng ta xử lý quá khứ. Người ta không được cứu nhờ ăn năn về những việc làm xấu trong quá khứ, cũng y như họ không được cứu nhờ tin cậy vào những việc lành của mình trong quá khứ. Người ta được cứu nhờ sự cứu rỗi mà Chúa đã hoàn thành trên thập tự giá. Chúng ta cần nắm vững nền tảng này.

II. CÁC GƯƠNG MẪU GIẢI QUYẾT QUÁ KHỨ TRONG TÂN ƯỚC

Như vậy, chúng ta nên làm gì đối với những điều thuộc về quá khứ của mình? Khi đọc Tân Ước, tôi đã để nhiều thì giờ tìm hiểu xem người ta nên kết liễu quá khứ của mình như thế nào sau khi tin Chúa. Tôi tìm thấy chỉ có một vài phân đoạn đề cập đến đề tài này cách ngắn gọn. Tuy nhiên, những chỗ ấy không phải là sự dạy dỗ, mà chỉ là gương mẫu.

A. Những Vấn Đề Liên Quan Đến Hình Tượng Cần Được Xử Lý Triệt Để

1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:9 nói: “Anh em đã xoay khỏi hình tượng, quay về Đức Chúa Trời”. Khi một người tin nơi Chúa, người ấy phải xử lý tất cả hình tượng. Xin hãy nhớ rằng chúng ta là đền thờ của Thánh Linh. Đền thờ của Đức Chúa Trời có gì hòa hợp với hình tượng? Ngay cả sứ đồ Giăng, khi gửi thư cho các tín đồ, đã nói: “Các con bé nhỏ ơi, hãy canh giữ mình khỏi hình tượng” (1 Gi. 5:21). Như vậy, điều này không đơn giản như nhiều người nghĩ.

Có một điều chúng ta phải lưu ý là Đức Chúa Trời cấm loài người không được làm hình tượng của bất cứ điều gì. Chúng ta không thể xem một vật do tay người ta làm ra là sống động. Giây phút chúng ta có tư tưởng đó, vật ấy trở nên hình tượng đối với chúng ta. Dĩ nhiên, hình tượng không là gì cả, nhưng nếu cho rằng nó sống động, thì chúng ta rơi vào sự sai lầm. Đó là lý do vì sao Đức Chúa Trời cấm thờ những vật như vậy. Ngay cả có một khuynh hướng về hình tượng ở trong lòng cũng bị cấm. Một trong Mười Điều Răn cấm làm hình tượng (Phục. 5:8).

Phục Truyền Luật Lệ Ký 12:30 nói: “Hãy cẩn thận... kẻo các ngươi tìm kiếm thần của họ, và nói rằng: Các dân tộc này phục vụ thần của họ như thế nào?” Điều này cho thấy thậm chí chúng ta không nên hỏi dân ngoại xem họ thờ các thần của họ như thế nào. Một số người tò mò muốn nghiên cứu cách các dân tộc thờ phượng và phục vụ thần của họ như thế nào. Nhưng Đức Chúa Trời cấm chúng ta không được tìm hiểu về những vấn đề như vậy. Nếu tìm hiểu về những điều ấy, thì điều tiếp theo chúng ta sẽ làm là thờ các thần của họ. Vì vậy, chúng ta bị cấm không được tò mò.

2 Cô-rin-tô 6:16 nói: “Đền thờ của Đức Chúa Trời với hình tượng có gì hòa hợp?” Ở đây, ý nghĩa rất rõ ràng. Cơ Đốc nhân không nên đến viếng những đền chùa. Dĩ nhiên có những trường hợp ngoại lệ, chẳng hạn như khi một người bị mắc kẹt trên núi hoang, không thể tìm được chỗ ở ban đêm và tại đó chỉ có một ngôi đền để trú thân. Nhưng nói chung, tín đồ không nên đến viếng một đền chùa nào. Lý do là vì 2 Cô-rin-tô 6:16 nói rõ rằng chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống. Câu này cũng nói rằng hình tượng và đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống không thể hòa hợp được. Trừ phi một người bị ép buộc vì một trường hợp hay một hoàn cảnh đặc biệt nào, tôi khuyên các tín đồ không nên đến gần hay cố tình đi tham quan đền chùa. Giăng nói: “Các con bé nhỏ ơi, hãy canh giữ mình khỏi hình tượng”. Canh giữ chính mình khỏi hình tượng nghĩa là hãy tránh xa hình tượng.

Thi Thiên 16:4 nói: “Tôi sẽ không xưng tên chúng trên môi mình”. Ngay cả tại tòa giảng, chúng ta nên cẩn thận tránh nói danh của các thần khác trừ trường hợp cần phải minh họa. Chúng ta không nên giữ bất cứ một điều mê tín nào, không sợ một điều xui xẻo nào, hay kiêng cử một số sự liên tưởng hoặc lời nói nào. Nhiều tín đồ vẫn chú ý đến vận may, xem tướng và đoán vận mệnh. Mọi sự liên quan đến bói khoa hay tử vi đều bị cấm. Mọi sự thuộc lãnh vực hình tượng cần phải được xử lý triệt để trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta nên cắt đứt mối liên hệ với những điều đó cách trọn vẹn.

Tín đồ mới phải từ bỏ hình tượng ngay từ ngày đầu được cứu. Họ không nên nói đến tên các hình tượng, có liên hệ đến việc bói khoa hay đến viếng các đền chùa. Chúng ta không thể thờ lạy bất cứ ảnh tượng nào. Ngay cả suy nghĩ đến việc thờ lạy những điều đó cũng không được. Chúng ta không thể tìm hiểu về sự thờ lạy của các tôn giáo khác. Tất cả những điều thuộc về quá khứ, chúng ta nên xử lý chúng. Bất cứ điều gì thuộc về những loại này cần bị phá hủy; thậm chí họ cũng không nên bán. Chúng ta nên phá hủy, tiêu trừ và loại bỏ chúng. Tôi hi vọng rằng các tín đồ mới sẽ không xem nhẹ điều này; họ phải rất cẩn thận về những điều ấy, vì Đức Chúa Trời cực kỳ ghen tương với các hình tượng.

Nếu anh em không thể giữ thế đứng vững chắc chống lại các hình tượng ngày nay, anh em sẽ gặp khó khăn trong việc thoát khỏi hình tượng lớn nhất trên đất trong tương lai. Dĩ nhiên, chúng ta không nên thờ lạy hình tượng làm bằng đất sét hay gỗ. Nhưng ngay cả nếu có một thần tượng sống động, chúng ta cũng không được thờ lạy nó. Thật ra có những thần tượng sống — kẻ bất pháp (2 Tê. 2:3) là một thần tượng thuộc loại đó. Xin hãy nhớ rằng anh em không thể thờ lạy hình tượng nào cả, anh em phải từ bỏ mọi hình tượng, thậm chí hình ảnh của Chúa Jesus và bà Ma-ri.

Chúng ta phải xử lý vấn đề này cách triệt để. Nếu không, chúng ta sẽ bị lạc hướng, đi theo một con đường khác. Chúng ta là những người không hầu việc theo xác thịt nhưng theo linh. Đức Chúa Trời đang tìm kiếm những người hầu việc Ngài trong linh, chứ không phải trong xác thịt. Đức Chúa Trời là Linh, chứ không phải là ảnh tượng. Nếu tất cả các anh chị em đều cẩn thận về điều này, họ sẽ không rơi vào tay Công giáo La-mã trong tương lai. Một ngày kia, Anti-Christ sẽ đến, quyền lực của Công giáo La-mã sẽ bành trướng vô cùng.

Trong Kinh Thánh, điều đầu tiên một người phải làm trong việc xử lý quá khứ là từ bỏ mọi hình tượng trước đây. Chúng ta phải xoay khỏi hình tượng và chờ đợi Con của Đức Chúa Trời đến. Thậm chí chúng ta không nên giữ một bức ảnh nào của Chúa Jesus. Những bức ảnh ấy không phải là hình ảnh thật của Chúa Jesus; chúng không có giá trị nào cả. Trong các bảo tàng viện tại Rô-ma, có trên hai ngàn bức ảnh khác nhau của Chúa Jesus. Tất cả những bức ảnh ấy đều được vẽ theo trí tưởng tượng của các họa sĩ. Tại một số quốc gia, các họa sĩ thường tìm những người giống với sự tưởng tượng của họ về Jesus và trả tiền để những người đó làm người mẫu cho họ vẽ chân dung của Jesus. Đó là phạm thượng. Đức Chúa Trời của chúng ta là Đức Chúa Trời ghen tương, Ngài không chịu được những điều như vậy giữa vòng chúng ta. Không nên có một loại mê tín nào. Một vài người thích nói: “Hôm nay không phải là ngày tốt vì có những điềm xấu”. Những nhận xét như vậy đến trực tiếp từ địa ngục. Con cái của Đức Chúa Trời nên loại bỏ những tư tưởng này ngay từ ngày đầu và xử lý chúng cách triệt để. Họ không nên cho phép chút mùi vị nào của hình tượng xen vào.

B. Những Vật Không Đúng Đắn Cần Bị Loại Trừ

“Một số đáng kể những người thực hành tà thuật gom sách của họ lại và đốt chúng trước mặt mọi người, họ tính giá của chúng và thấy lên đến năm mươi ngàn miếng bạc” (Công. 19:19). Đó là một vấn đề khác mà các tín đồ mới nên xử lý và chấm dứt.

Đó không phải là một mạng lệnh hay sự dạy dỗ, nhưng là kết quả của công tác Thánh Linh. Thánh Linh chuyển động cách mạnh mẽ đến nỗi người Ê-phê-sô đem tất cả các sách không đúng đắn trong những vật mình sở hữu ra. Ở đây nói chúng trị giá “năm mươi ngàn miếng bạc”, đó là một số tiền đáng kể. Họ không bán những sách ấy và dâng tiền cho hội-thánh. Trái lại, sách của họ bị đốt. Nếu Giu-đa có mặt, chắc chắn ông không cho làm điều này. Số tiền này giá trị hơn ba mươi miếng bạc nhiều, là số tiền có thể đem cho người nghèo. Nhưng Chúa hài lòng khi thấy chúng bị đốt.

Ngoài các loại đồ vật được đề cập trên, có nhiều vật đáng nghi ngại khác cần được xử lý. Trong đó có một số rõ ràng liên hệ đến tội lỗi. Những bộ bài, sách vở và tranh ảnh không đúng đắn là một vài ví dụ. Chúng phải bị đốt hoặc tiêu hủy. Có thể có nhiều vật xa xỉ và những vật người ta đam mê không thể đốt được. Tuy nhiên, chúng vẫn cần bị cất bỏ. Nhưng thiêu đốt là nguyên tắc chung trong việc xử lý những điều này.

Sau khi một người tin Chúa, người ấy nên về nhà kiểm tra tất cả những gì thuộc về mình. Trong nhà của một người vô tín, luôn luôn có điều liên quan đến tội lỗi. Có thể người ấy có những món đồ không phù hợp với thánh đồ. Những vật liên quan đến tội lỗi phải bị thiêu đốt hay hủy bỏ, không thể đem bán. Những vật dụng xa xỉ, nếu có thể được thì hãy sửa lại. Nếu không thể sửa lại được, chúng ta hãy bán đi.

Áo quần của người cùi trong Lê-vi Ký chương 13 và 14 là một sự minh họa tốt. Áo quần đã bị lây nhiễm bệnh cùi, không thể giặt được mà phải đem đốt. Tuy nhiên, nên giặt và dùng lại những cái nào có thể giặt được. Nếu kiểu y phục của mình không đứng đắn, chúng ta có thể sửa lại. Một số quần áo có thể quá ngắn, chúng ta có thể nới dài; những cái khác trông có vẻ kỳ cục, chúng ta có thể làm cho chúng kín đáo hơn. Một vài đồ vật không thể sửa lại được vì có những yếu tố tội lỗi, trong trường hợp đó, chúng ta phải đốt đi. Những gì có thể bán nên đem bán và đem tiền cho người nghèo.

Cần phải kết liễu những gì không đúng đắn. Nếu mỗi tín đồ mới đều xem xét kỹ càng tất cả vật dụng của mình, người ấy sẽ có một bước khởi đầu rất tốt đẹp. Những vật dụng mê tín phải bị đốt. Những vật khác có thể sửa đổi hay đem bán sau khi sửa đổi. Một khi đã học bài học này, chúng ta sẽ ghi nhớ suốt đời. Chúng ta phải nhận thức rằng làm Cơ Đốc nhân là một điều rất thực tế, đó không chỉ là vấn đề “đi nhà thờ” và “nghe giảng”.

C. Trả Nợ

“Xa-chê đứng lên và thưa với Chúa: Thưa Chúa, này, tôi cho người nghèo phân nửa tài sản của tôi, nếu tôi đã vu cáo để lấy gì của ai, tôi sẽ bồi thường gấp bốn lần” (Lu. 19:8). Hành động ấy của Xa-chê không phải là kết quả của sự dạy dỗ có tính cách giáo lý, nhưng ông đã làm điều đó do sự vận hành của Thánh Linh. Nếu đó là kết quả của sự dạy dỗ theo giáo lý, chỉ cần trả chính xác số lượng, không hơn không kém. Nhưng vì đó là sự hành động của Thánh Linh, số lượng có thể thay đổi, có thể phần nào nhiều hơn hay phần nào kém hơn. Xa-chê nói: “Nếu tôi đã vu cáo để lấy gì của ai, tôi sẽ bồi thường gấp bốn lần”. Thật ra, bồi thường gấp đôi là đã quá đầy đủ. Nguyên tắc của sách Lê-vi Ký là thêm vào số nguyên thủy một phần năm. Đối với một ngàn mỹ kim, anh em sẽ phải trả một ngàn hai trăm mỹ kim. Nhưng nếu một người được [Chúa] chạm đến, người ấy có thể trả theo mức Linh của Chúa hướng dẫn. Người ấy có thể được cảm động trả gấp bốn lần hay gấp mười lần. Những gì được nói đến ở đây chỉ là nguyên tắc. Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta cần phải sáng tỏ rằng những gì được nói đến không chỉ là sự dạy dỗ suông. Đó là kết quả sự dẫn dắt của Thánh Linh khi Ngài hành động trong người ta.

Giả sử trước khi trở nên tín đồ, anh em đã cưỡng đoạt hay lường gạt của cải người khác, trộm cắp của họ, hay chiếm hữu nhiều điều bằng những phương tiện không đúng đắn. Bây giờ Chúa đang hành động trong lòng, anh em phải xử lý những điều ấy một cách đúng đắn. Điều này không liên quan đến sự tha thứ anh em nhận được từ Chúa, nhưng liên quan rất nhiều đến chứng cớ của anh em.

Giả sử trước khi được cứu, tôi đã ăn cắp một ngàn mỹ kim của một người nào đó. Nếu không giải quyết vấn đề này cách sáng tỏ, làm thế nào tôi giảng phúc-âm cho người ấy sau khi được cứu? Đang khi tôi làm chứng cho người ấy, lòng người ấy vẫn suy nghĩ về một ngàn mỹ kim kia. Chắc chắn tôi đã nhận được sự tha thứ của Chúa, nhưng tôi không có chứng cớ tốt trước mặt người ta. Tôi không thể nói: “Vì Đức Chúa Trời đã tha thứ cho tôi, nên tôi có trả cho người ấy hay không không thành vấn đề”. Không phải như vậy, điều này liên quan đến chứng cớ của tôi.

Xin nhớ rằng Xa-chê bồi thường gấp bốn lần vì chứng cớ của ông. Khi ấy mọi người đều nói: “Sao Chúa lại có thể đến ở nhà của tội nhân này? Ông ta cưỡng đoạt và lường gạt của nhiều người!” Họ đều tức giận. Đang khi họ nói như vậy, Xa-chê đứng lên nói: “Nếu tôi có vu cáo để lấy gì của ai, tôi bồi thường gấp bốn lần”. Sự bồi thường gấp bốn lần này không phải là điều kiện để trở nên con của Áp-ra-ham, cũng không phải là điều kiện để sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời đến nhà Xa-chê. Sự bồi thường gấp bốn lần này là kết quả do sự cứu rỗi đã đến nhà Xa-chê và do việc ông trở nên con cái của Áp-ra-ham. Vì hành động bồi thường này, Xa-chê có chứng cớ trước mặt loài người. Đó là nền tảng chứng cớ của ông.

Tôi biết một anh em không được ngay thẳng lắm về vấn đề tiền bạc trước khi tin Chúa. Nhiều bạn bè cùng lớp của anh là những người thuộc tầng lớp trung lưu. Sau khi tin Chúa, anh nhiệt thành dẫn dắt các bạn cùng lớp đến với Chúa. Nhưng anh không thấy kết quả bao nhiêu. Mặc dầu anh nóng cháy rao giảng phúc-âm cho họ, nhưng họ tự nhủ trong lòng: “Thế này là thế nào? Còn vấn đề tiền bạc thì sao?” Quá khứ của anh chưa được xóa sạch đối với họ. Anh em này không theo gương của Xa-chê. Tội lỗi anh được tha thứ trước mặt Đức Chúa Trời. Mọi nan đề của anh đều được giải quyết. Nhưng vấn đề liên quan đến tiền bạc trước mặt bạn bè cùng lớp chưa được giải quyết. Anh phải xưng tội và bồi thường tất cả những hành động sai trái của mình trong quá khứ trước khi có thể làm chứng cho những người khác. Sự phục hồi chứng cớ của anh tùy thuộc vào việc kết liễu quá khứ của anh.

Như tôi đã đề cập, Xa-chê không trở nên con cái của Áp-ra-ham do bồi thường gấp bốn lần. Ông cũng không nhận được sự cứu rỗi do bồi thường gấp bốn lần. Trái lại, ông bồi thường gấp bốn lần vì ông đã là con của Áp-ra-ham. Ông bồi thường gấp bốn lần vì ông đã được cứu. Bằng cách bồi thường gấp bốn lần, ông khóa miệng của những người khác. Họ không thể nói gì nữa. Sự bồi thường gấp bốn lần vượt quá những gì ông mắc nợ, do đó những người khác phải ngậm miệng lại và ông phục hồi chứng cớ của mình.

Anh em ơi, trước khi trở nên tín đồ, anh em có làm gì sai quấy với ai không? Anh em có mắc nợ ai điều gì không? Anh em có đem về nhà mình những gì thuộc về người khác không? Anh em có đoạt lấy điều gì bằng phương tiện không đúng đắn không? Nếu có, anh em phải xử lý tất cả những điều ấy cách đúng đắn. Sự ăn năn của một Cơ Đốc nhân liên quan đến việc xưng ra những hành động sai trái của mình trong quá khứ, trong khi sự ăn năn của một người bình thường chỉ liên quan đến sự thay đổi trong hành vi hiện tại. Ví dụ, là một con người, nếu tôi nóng tánh, tôi chỉ cần kiềm hãm tánh nóng nảy của mình lại. Nhưng là Cơ Đốc nhân, ngoài việc kiềm hãm tánh nóng nảy, tôi còn phải xin lỗi về sự nóng nảy trước kia của mình. Ngoài việc không nổi nóng trước mặt Đức Chúa Trời, tôi cũng phải xin lỗi về sự nóng nảy trước kia của mình trước mặt người ta. Chỉ khi ấy, vấn đề đó mới chấm dứt.

Giả sử trong quá khứ, anh em trộm cắp của người khác. Nan đề của anh em trước mặt Đức Chúa Trời được giải quyết khi anh em không còn trộm cắp nữa. Cũng vậy, nếu anh em từng lấy điều gì thuộc về người khác, nan đề của anh em được giải quyết một khi anh em không còn làm như vậy nữa. Tuy nhiên, để có chứng cớ trước mặt loài người thì như vậy chưa đủ. Cho dầu anh em không trộm cắp gì suốt ba năm, những người khác có thể vẫn cho anh em là kẻ trộm. Sau khi tin Chúa, anh em phải làm chứng trước mặt người ta; anh em phải giải quyết mọi lỗi lầm của mình trong quá khứ. Chỉ khi ấy vị trí của anh em mới sáng tỏ.

Nhưng đây là một vấn đề nan giải. Giả sử anh em lấy trộm mười ngàn mỹ kim của ai đó. Anh em nên làm gì nếu hiện nay thậm chí anh em không có đến một ngàn mỹ kim? Trên nguyên tắc, anh em phải thú nhận với người mình đã lấy trộm. Anh em nên nói cách ngay thẳng với người ấy rằng hiện nay anh em không thể trả cho người ấy. Anh em có thể trả số tiền đó ngay hay không là một việc khác, nhưng anh em vẫn nên thú nhận và làm chứng cho người ấy. Nếu bây giờ anh em không thể làm chứng, suốt đời anh em vẫn không làm chứng được.

Xin nhớ rằng trong khi làm chứng, có thể anh em bị ảnh hưởng do những nan đề của bản thân. Nhưng anh em không thể tránh xử lý những nan đề ấy. Anh em vẫn phải xử lý các nan đề ấy. Anh em chỉ có thể làm chứng trước mặt người ta sau khi đã giải quyết các nan đề của mình.

Một vài người đã phạm tội sát nhân trong quá khứ. Bây giờ họ nên làm gì? Đó là một phần của quá khứ họ. Trong Kinh Thánh, có hai tay sát nhân được cứu. Một người trực tiếp liên hệ đến hành động giết người, trong khi người kia giết người cách gián tiếp. Người đầu tiên là tên cướp trên thập tự giá. Trong nguyên ngữ Hi-lạp, chữ tên cướp rõ ràng không chỉ có nghĩa là một tên cướp bình thường, mà có nghĩa là một tội phạm tham gia vào hành động giết người hay cố ý đốt nhà. Người ấy không phải là một tên trộm, mà là một tên cướp của và giết người. Sau khi tin Chúa, tội lỗi của người ấy đã được tha. Kinh Thánh không nói với chúng ta cách anh ta kết liễu quá khứ của mình. Người kia là Phao-lô. Ông không trực tiếp liên quan đến một vụ giết người nào. Tuy nhiên, ông là đồng lõa trong vụ giết Ê-tiên, ông trông chừng y phục của những người giết Ê-tiên. Sau khi Phao-lô được cứu, Kinh Thánh không nói ông giải quyết điều đó như thế nào.

Trên nguyên tắc, tôi tin rằng khi một tay sát nhân tin Chúa, tội lỗi của người ấy được bỏ lại phía sau. Không một tội nào mà không thể tẩy sạch nhờ huyết. Tên cướp [trên thập tự giá] không phải làm gì để kết liễu quá khứ của mình. Thật ra, người ấy không có cơ hội để làm gì cả. Chúa phán với người ấy: “Hôm nay, ngươi sẽ ở với Ta trong Pa-ra-đi” (Lu. 23:43). Vì thế, khi gặp những trường hợp như vậy, chúng ta không nên đặt gánh nặng quá mức trên lương tâm của những người khác, dĩ nhiên trừ phi Đức Chúa Trời đã hành động trong lòng người ấy trước. Bởi vì trong hai trường hợp mà Tân Ước bàn đến về việc giết người, một trực tiếp và một gián tiếp, Đức Chúa Trời không chú ý đến việc điều chỉnh quá khứ. Tuy nhiên, tôi tin một số người không có sự bình an trong lương tâm, không phải vì họ chịu đựng sự buộc tội bình thường, nhưng vì Đức Chúa Trời đang hành động trong họ. Trong những trường hợp ấy, chúng ta không nên ngăn họ bày tỏ sự hối tiếc của mình đối với gia đình nạn nhân.

D. Kết Liễu Những Vấn Đề Chưa Giải Quyết

Khi được cứu, chắc chắn một người có nhiều vấn đề thế tục trước mắt chưa giải quyết. Những điều này dễ ngăn trở người ấy trên đường theo Chúa. Người ấy nên làm gì? “Hãy theo Ta, và hãy để người chết chôn người chết của họ” (Mat. 8:22). Đây là một trường hợp khác trong Kinh Thánh liên quan đến việc kết liễu quá khứ. Tại đây, một người đến với Jesus và nói với Ngài rằng: “Thưa Chúa, xin cho phép tôi về chôn cha tôi trước đã” (c. 1). Chúa đáp rằng: “Hãy theo Ta, và hãy để người chết chôn người chết của họ”. Chữ của họ chỉ về từ ngữ người chết được nói đến đầu tiên, trong khi chữ người chết thứ hai chỉ về cha của người hỏi câu ấy. Chữ người chết thứ nhất chỉ về những người chết về mặt thuộc linh. Theo mắt Đức Chúa Trời, những người trong thế gian là những người chết thuộc linh. Chúa nói rằng người ấy nên để người chết chôn cha của mình, còn người ấy thì theo Ngài.

Tôi không có ý khuyên các tín đồ mới đừng chuẩn bị đám tang cho cha mình. Tôi có ý nói rằng người chết nên chôn người chết của mình. Chúng ta phải nắm vững nguyên tắc này. Chúng ta nên gác qua những việc chưa hoàn tất. Nếu chúng ta chờ đợi cho đến khi giải quyết xong hết rồi mới trở thành Cơ Đốc nhân thì sẽ không còn thì giờ. Có hàng trăm, hàng ngàn điều chưa hoàn tất trong gia đình chúng ta, với cha chúng ta và trong đời sống chúng ta. Vậy thì ai có thể trở nên Cơ Đốc nhân? Chỉ có một từ ngữ để mô tả nguyên tắc phía sau mọi điều ấy — đó là những người chết. Hãy để người chết chôn người chết. Hãy để những người chết thuộc linh dàn xếp những vấn đề của người chết! Đó là nguyên tắc. Đó không phải là lời khuyên các tín đồ mới bỏ lơ gia đình mình, mà có nghĩa là họ không nên chờ đợi cho đến khi giải quyết xong mọi vấn đề trần thế rồi mới đến với Chúa. Nếu làm như vậy, họ sẽ không bao giờ theo Chúa được.

Nhiều người muốn dàn xếp mọi vấn đề trước khi tin Chúa. Nếu vậy, họ sẽ không còn cơ hội tin Ngài. Chúng ta không nên để những vấn đề của người chết ràng buộc mình. Thay vào đó, chúng ta nên xem những vấn đề chưa giải quyết như đã giải quyết xong rồi. Nếu muốn dàn xếp xong trước khi theo Chúa, chúng ta sẽ không thực hiện được. Các vấn đề liên quan đến hình tượng, những điều không đúng đắn và nợ nần phải được giải quyết cách triệt để. Còn những vấn đề khác chưa dàn xếp xong, chúng ta nên gác qua!

Về thái độ của tín đồ mới đối với quá khứ của mình, tôi chỉ có thể thấy bốn loại trên trong lời của Đức Chúa Trời. Về những vấn đề chưa giải quyết, chúng ta nên xem như chúng đã được giải quyết rồi. Đối với các bổn phận trong gia đình, chúng ta nên để người chết chăm sóc người chết. Chúng ta không có thì giờ để giải quyết chúng. Chúng ta muốn theo Chúa. Những điều đó không dành cho chúng ta giải quyết, mà hãy để cho người chết giải quyết. Hãy để những người chết thuộc linh dàn xếp chúng.

MỘT CÂU HỎI

Một anh em hỏi: Nếu tôi làm tổn thương một người và người ấy không biết, tôi có phải xưng tội với người ấy không?

Đáp: Tất cả tùy thuộc vào việc người ấy có bị thiệt hại vật chất không. Nếu người kia nhận biết sự thiệt hại ấy, anh em nên giải quyết vấn đề theo gương của Xa-chê. Dầu người ấy không biết sự thiệt hại này, anh em vẫn nên nhận tội với người ấy, đặc biệt khi có liên quan đến sự thiệt hại vật chất. Tốt nhất là đem vấn đề đến với hội-thánh và để cho những người kinh nghiệm hơn giúp đỡ anh em giải quyết vì họ biết điều gì là ích lợi nhất.