Thông tin sách

Mọi Lứa Tuổi Đều Vì Chứng Cớ Của Chúa

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: All Ages For The Lord’s Testimony
ISBN: 978-0-87083-270-3
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 3

Untitled Document

CHƯƠNG BA

DUY TRÌ CHỨNG CỚ VỀ SỰ HIỆP MỘT CỦA HỘI THÁNH TRONG ĐẤNG CHRIST

Sự khôi phục của Chúa không chủ yếu là vấn đề giáo lý. Ngày nay, trong sự khôi phục, chúng ta quan tâm đến kinh nghiệm Đấng Christ và thực hành nếp sống Hội thánh đúng đắn.

SỰ CHIA RẼ VỀ GIÁO LÝ

Martin Luther đã đi con đường giáo hội quốc gia. Trong vấn đề này ông đã phạm một sai lầm. Chính quyền và Hội thánh pha trộn với nhau là một sai lầm nghiêm trọng. Gần hai trăm năm sau cuộc Cải Chánh, Chúa mới bắt đầu khôi phục nếp sống Hội thánh qua các anh em Zinzendorf và Moravian. Vào thế kỷ sau đó, Chúa đã dấy lên các anh em tại Anh để tiếp tục thực hành nếp sống Hội thánh. Ban đầu, kinh nghiệm của họ rất tuyệt vời, thậm chí anh Nee còn xem đó là sự ứng nghiệm lời tiên tri về Hội thánh tại Phi-la-đen-phi. Tuy nhiên, cuối cùng đã có chia rẽ, chủ yếu là những ý kiến khác nhau về việc Chúa đến do hai giáo sư nổi tiếng của hội Anh Em đề xướng, là John Nelson Darby và Benjamin Newton. Nếu Darby và Newton có ánh sáng về sự hiệp một thì họ sẽ không tranh cãi về vấn đề Chúa đến mà vẫn duy trì sự hiệp một của Hội thánh. Tiếp theo sau sự chia rẽ giữa Darby và Newton là nhiều sự chia rẽ khác. Tôi có biết đến một hội chúng của hội Anh em đã bị chia rẽ về việc sử dụng nhạc cụ.

Ngày nay, Cơ Đốc nhân bị chia rẽ bởi nhiều điều, chẳng hạn như về phương pháp báp-tem hay việc báp-tem cho người ta trong danh Jesus hay trong danh Cha, Con và Thánh Linh. Vì có quá nhiều sự chia rẽ do các cuộc tranh luận về giáo lý gây ra nên chúng ta cần nhấn mạnh rằng điều quan tâm chủ yếu trong sự khôi phục ngày nay không phải là giáo lý. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta không nghiên cứu Kinh Thánh. Chúng ta nghiên cứu Kinh Thánh và biết rõ Kinh Thánh. Nhưng mối quan tâm chủ yếu của chúng ta là khôi phục Đấng Christ là sự sống và Hội thánh là nếp sống của chúng ta. Chúng ta vì sự khôi phục của Đấng Christ và Hội thánh, không phải vì sự khôi phục giáo lý như trùm đầu, rửa chân hay phương pháp trầm mình. Nếu bất kỳ ai vẫn còn muốn bất đồng về giáo lý thì Hội thánh trong sự khôi phục của Chúa không phải là chỗ dành cho người đó. Người ấy nên gặp gỡ những ai có giáo lý mà người ấy chấp nhận được.

SỐNG BỞI CHRIST VÀ BIỂU LỘ NGÀI TRONG SỰ HIỆP MỘT

Chúng ta ở đây là sự khôi phục của Chúa, không phải là một phần của Cơ Đốc giáo ngày nay. Hội thánh là những người được chuộc, được cứu, được tha thứ, được tái sinh, tức những người có Đấng Christ là sự sống của họ và đến với nhau để biểu lộ Đấng Christ trong sự hiệp một. Điều này là theo gia tể của Đức Chúa Trời để hoàn thành mục đích đời đời của Ngài. Qua các thế kỷ, Hội thánh đã trở nên suy thoái. Do đó, Chúa đã dấy lên một chứng cớ vào cuối thời đại này để khôi phục nếp sống Hội thánh đúng đắn. Trong nếp sống Hội thánh, chúng ta sống bởi Christ là sự sống của chúng ta và đến với nhau trong sự hiệp một để biểu lộ Ngài.

Chúa không đòi hỏi người tin đồng bộ với nhau về giáo lý. Chương mười bốn sách La Mã chứng minh điều này cách mạnh mẽ. Về việc ăn và giữ các ngày, thái độ của Phao-lô trong chương này là không hẹp hòi, không thành kiến. Trong câu 6 Phao-lô nói: “Kẻ giữ ngày là giữ vì Chúa. Kẻ ăn là ăn vì Chúa, vì họ cảm tạ Đức Chúa Trời; kẻ không ăn, cũng không ăn vì Chúa, và họ cũng cảm tạ Đức Chúa Trời”. Trong những vấn đề này, các thánh đồ không đoán xét lẫn nhau. Ngược lại, họ tiếp nhận lẫn nhau. Câu 3 chép: “Người ăn chớ khinh dễ kẻ không ăn, người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn; vì Đức Chúa Trời đã tiếp nhận người”. Về sự tiếp nhận người tin, Phao-lô nói rằng: “Vậy nên, anh em hãy tiếp nhận lẫn nhau, cũng như Đấng Christ đã tiếp nhận anh em, để Đức Chúa Trời được vinh hiển”. (La. 15:7). Đức Chúa Trời tiếp nhận người tin cho dù họ ăn gì, và chúng ta cũng nên tiếp nhận họ như vậy. Điều này cũng đúng với việc giữ những ngày nào đó. Chúng ta nên tiếp nhận lẫn nhau, không chỉ trích hay tranh luận với nhau. Tất cả chúng ta cần có một thái độ khoan dung và rộng lượng. Giả sử có ai đó chỉ trích buổi nhóm Hội thánh ồn ào và tuyên bố rằng buổi nhóm ồn ào là ngược lại với câu Kinh Thánh trong 1 Cô-rin-tô chương 14 là câu nói rằng mọi sự phải làm cho hiệp lẽ và theo trật tự. Người có ý kiến này nên đi đến chỗ nào mà anh ta cho là hiệp lẽ và trật tự. Nếu chúng ta áp đặt quan điểm của mình trên người khác thì sẽ gây ra chia rẽ. Nếu anh em nói tiếng lạ thì không nên khăng khăng rằng người khác cũng phải như vậy. Một đòi hỏi như thế sẽ gây ra chia rẽ.

Trong La Mã 15:5 Phao-lô khích lệ chúng ta “đồng tâm trí với nhau y theo Christ Jesus”. Chúng ta không thể đồng tâm trí trong giáo lý; chúng ta chỉ có thể đồng tâm trí theo Đấng Christ. Ngoài Đấng Christ, những người tin đến từ các nền văn hóa khác nhau và với tính khí khác nhau không thể đồng tâm trí. Thậm chí một anh em không thể đồng tâm trí với vợ của mình. Mặc dù chúng ta không thể đồng tâm trí về nhiều điều nhưng chúng ta có thể đồng tâm trí về Đấng Christ và Hội thánh. Chúng ta là một trong Christ và chúng ta là một vì Hội thánh. Chúa có thể làm chứng rằng vợ tôi và tôi không có những ý kiến khác nhau về Đấng Christ và Hội thánh.

CÁC TIÊN TRI, NGƯỜI DẠY VÀ NGƯỜI KHUYÊN LƠN

Công vụ các Sứ đồ 2:14 chép rằng Phi-e-rơ đứng dậy cùng mười một người. Từ “mười một” ở đây chỉ về các sứ đồ. Vào thời điểm của Công vụ các Sứ đồ chương 2, những người ân tứ là các sứ đồ. Không hề có tiên tri hay người dạy. Nhưng Công vụ các Sứ đồ 13:1 nói rằng trong Hội thánh tại An-ti-ốt có các tiên tri và người dạy, cũng có những người ân tứ. Trái ngược với vương quyền và chức tế lễ, là những chức vụ đặc biệt, tiên tri không phải là một chức vụ riêng rẽ mà là một chức vụ bổ sung. Khi vua Đa-vít phạm tội, tiên tri Na-than đã quở trách ông. Nhưng nếu Đa-vít không phạm tội thì sẽ không cần Na-than nói lời quở trách. Điều này chỉ ra rằng nếu vua luôn luôn đúng thì sẽ không cần tiên tri. Các tiên tri được dấy lên khi chức tế lễ và vương quyền bị suy yếu.

Trong thời khôi phục trong Cựu Ước, có đề cập đến Giê-hô-sua là thầy tế lễ thượng phẩm và quan trấn thủ Xô-rô-ba-bên, một hậu tự của Đa-vít. Chức vụ của họ được Chúa sử dụng trong sự khôi phục của Ngài. Nhưng khi họ trở nên suy yếu và công tác của sự khôi phục bị dừng lại, Chúa đã dấy lên tiên tri A-ghê và Xa-cha-ri để làm họ mạnh mẽ. Điều này chỉ ra rằng tiên tri không phải là một chức vụ riêng rẽ, độc lập. Trái lại, tiên tri thi hành chức năng để hỗ trợ chức vụ của nhà vua và thầy tế lễ.

La Mã chương 12 nói về chức năng của tiên tri, người dạy và người khuyên lơn. Sự khác nhau giữa nói tiên tri, dạy dỗ và khuyên lơn là gì? Chức năng chính của tiên tri không phải là tiên đoán tương lai; ngược lại, tiên tri phát ngôn cho Đức Chúa Trời như là phát ngôn viên của Ngài. Trong Kinh Thánh, các tiên tri của Đức Chúa Trời được Đức Chúa Trời sai phái để phát ngôn cho Ngài. Dù thỉnh thoảng họ nói về tương lai, nhưng phần lớn thời gian, họ bày tỏ những lời quở trách, công bố hay định tội. Những gì tiên tri phát ngôn không phải là học từ con người nhưng tiếp nhận trực tiếp từ Đức Chúa Trời. Các tiên tri Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên và Đa-ni-ên không lặp lại sự dạy dỗ của những người khác; họ phát ngôn những gì Đức Chúa Trời đã khải thị trực tiếp cho họ. Họ phát ngôn điều họ đã thấy trong khải tượng, khải thị của Đức Chúa Trời. Ngược lại với các tiên tri, người dạy không có sự khải thị trực tiếp. Thay vào đó, họ dạy dỗ theo điều các tiên tri phát ngôn. Để làm một người dạy, một người phải biết các tiên tri phát ngôn điều gì. Một người khuyên lơn sử dụng sự dạy dỗ của người dạy để khuyên lơn người khác. Vì lý do này, La Mã chương 12 trước hết đề cập đến các tiên tri, sau đó là người dạy, và kế đến là những người khuyên lơn. Các tiên tri tiếp nhận khải thị trực tiếp, người dạy dạy dỗ người khác theo khải thị mà các tiên tri đã cung cấp, và những người khuyên lơn răn bảo theo sự dạy dỗ này.

Bây giờ, chúng ta cần áp dụng điều này cho tình trạng trong nếp sống Hội thánh ngày nay. Chúng ta đã chỉ ra rằng những anh chị em tuổi trung niên là những người cần nhất cho nếp sống Hội thánh. Những người trong độ tuổi này chăm sóc cho trại nhóm họp cách trực tiếp, trong khi đó người trẻ hữu ích cho việc đánh trận, và những người mới dành cho việc bảo vệ đền tạm. Do đó, chứng cớ của Hội thánh ngày nay phụ thuộc trực tiếp vào những người tuổi trung niên. Để những người tuổi trung niên thi hành chức năng cách bình thường, họ cần phải gạt những tham vọng về quyền lãnh đạo và chức vụ trưởng lão sang một bên. Các trưởng lão cần thiết trong Hội thánh, nhưng chức năng của họ không phải là điều cần thiết hơn cả. Cũng cần phải có những tiên tri, người dạy, và người khuyên lơn. Tại Anaheim có một nhu cầu lớn về việc thánh đồ được củng cố và làm cho vững chắc bởi những người dạy dỗ và khuyên lơn. Nhiều người trẻ cần ai đó dạy họ bằng cách cho họ ăn qua sự tương giao.

Trong Hội thánh, nhu cầu về trưởng lão có giới hạn. Nếu tất cả các anh em đang tìm kiếm chức vụ trưởng lão thì họ sẽ tìm thấy ký hiệu “không còn chỗ” trước “khách sạn” trưởng lão. Đừng phí thời gian chờ đợi một chỗ trong khách sạn này. Thay vào đó hãy đi đến khách sạn dạy dỗ và khuyên lơn, là nơi có nhiều chỗ cho anh em.

MỞ NHÀ RA

Tôi có gánh nặng về việc các thánh đồ tại Anaheim mở nhà ra để rao giảng phúc âm, hay để tương giao với các thánh đồ. Không cần các trưởng lão sắp xếp điều này. Các gia đình ở gần nhau có thể đến cùng nhau để cầu nguyện, và tìm kiếm sự dẫn dắt của Chúa. Chúa có thể dẫn dắt vài gia đình tổ chức một buổi nhóm phúc âm thân mật tại một trong các nhà đó. Những người khác có thể được Chúa dẫn dắt để mời những người hàng xóm chưa được cứu đến nhà mình để có thời gian nghỉ ngơi. Khi làm như vậy, chúng ta không nên cố thuyết phục người khác theo đạo. Ngược lại, chúng ta nên cung ứng sự cứu rỗi cho những người chưa được cứu và cung ứng Đấng Christ cho người tin. Nếu chúng ta cung ứng sự giàu có của Đấng Christ cho người khác thì họ sẽ được thôi thúc để tìm kiếm Chúa. Đó chính là Chúa thêm họ vào Hội thánh. Ý định của chúng ta không phải là thuyết phục họ theo đạo mà là cung ứng Đấng Christ như sự sống cho người khác và làm chứng cho họ về sự cứu rỗi của chúng ta, về tình yêu của chúng ta đối với Chúa, và về sự hiệp một của chúng ta. Chúng ta ở đây để trở thành một chứng cớ sống động tập thể từ những người sống bởi Christ và vì Christ.

Trong sự khôi phục của Chúa, chắc chắn cần có những trưởng lão chăm sóc cho sự quản trị Hội thánh và quyết định về những vấn đề thực tiễn chẳng hạn như thời gian của các buổi nhóm. Nhưng không phải tất cả các anh em trong một Hội thánh địa phương đều có thể là một trưởng lão. Những chức năng khác, bao gồm dạy dỗ và khuyên lơn là nhu cầu cấp thiết cho sự xây dựng Hội thánh. Chúng ta cần rao giảng phúc âm cho tội nhân, và chúng ta cần chia sẻ chứng cớ của Chúa với các Cơ Đốc nhân. Chỉ có các trưởng lão thì không thể làm điều này. Tất cả các thánh đồ cần mang gánh nặng rao giảng phúc âm để mở rộng chứng cớ của Chúa và để gây dựng các thánh đồ qua sự tương giao. Nếu chúng ta làm như vậy thì Hội thánh sẽ phát triển, và sự khôi phục sẽ mở rộng.

Bởi vì nhiều chức năng khác cũng cần thiết nên chúng ta hãy gạt suy nghĩ về quyền lãnh đạo sang một bên. Anh em có là một trưởng lão hay không không quan trọng. Vấn đề quan trọng là anh em sẵn sàng rao giảng phúc âm, chăm sóc cho các Cơ Đốc nhân khác hay gây dựng các thánh đồ.

KHÔNG CÓ SỰ CHIA RẼ, ĐỘC LẬP, HAY NỔI LOẠN

Là những người trong sự khôi phục của Chúa, linh và động cơ của chúng ta phải thuần khiết, chúng ta phải làm mọi thứ có thể để tránh sự chia rẽ. Sự khôi phục của Chúa là vấn đề Đấng Christ và Hội thánh trong sự hiệp một. Nếu gây chia rẽ thì chúng ta không vì sự khôi phục. Hơn nữa, chúng ta không nên hành động cách độc lập với Hội thánh. Mặc dù không cần sự cho phép của các trưởng lão để thi hành chức năng qua việc mở nhà ra, nhưng đừng theo chủ nghĩa cá nhân khi làm điều này. Hơn nữa, đừng nổi loạn, vì nổi loạn giết chết mục đích của chúng ta. Không có chỗ cho sự nổi loạn trong Hội thánh. Các thánh đồ nên tôn trọng các trưởng lão như những người dẫn dắt trong Hội thánh và tương giao với họ. Các trưởng lão không nên kiểm soát các thánh đồ, nhưng các thánh đồ nên sẵn sàng tương giao với các trưởng lão. Tuy nhiên, chúng ta không nên làm cho sự tương giao trở nên vấn đề mang tính luật pháp.

KHÔNG DẠY KHÁC

Chúng ta thấy rằng các tín đồ không cần giống nhau trong giáo lý. Tuy nhiên, trong 1 Ti-mô-thê 1:3, Phao-lô chỉ ra rằng chúng ta không nên dạy dỗ cách khác nhau. Điều này có nghĩa là chúng ta không nên dạy những giáo lý riêng biệt của chúng ta. Chúng ta không phải vì giáo lý của mình mà vì sự hiệp một của Hội thánh trong Đấng Christ. Hàng tá gia đình có thể mở ra cho sự rao giảng phúc âm hay cho sự tương giao, nhưng trong những buổi nhóm tư gia này, tất cả chúng ta nên dạy dỗ những điều giống nhau. Đừng sử dụng sự nhóm họp tại nhà của anh em như một cơ hội để dạy dỗ những giáo lý riêng biệt. Đừng dạy rửa chân, trùm đầu, hay một quan điểm nào đó về sự cất lên, nhưng hãy dạy dỗ về Christ và Hội thánh.

ĐỪNG KHĂNG KHĂNG PHƯƠNG CÁCH CỦA MÌNH

Ngoài ra, chúng ta không nên có thái độ cho rằng phương cách của chúng ta chính là phương cách duy nhất. Cũng vậy, chúng ta không nên cố trở nên đặc biệt. Dù có làm gì, anh em cũng đừng cho điều đó là đặc biệt. Điều này gây nên chia rẽ. Trong 1 Cô-rin-tô 1:10, Phao-lô khuyên người Cô-rin-tô phải hoàn toàn đồng một tâm trí và trong một ý kiến. Đừng có thái độ cho rằng mọi người trong Hội thánh nên làm theo phương cách của anh em, và đừng khăng khăng vào một phương cách nào đó. Chẳng hạn, có nhiều cách để đi từ Anaheim đến Los Angeles. Cho dù một vài cách có thể tốt hơn những cách còn lại, nhưng những ai chọn cách tốt hơn không nên khăng khăng rằng mọi người đều phải giống nhau. Cũng vậy, trong nếp sống Hội thánh, chúng ta không nên nói rằng chúng ta có cách duy nhất để trở nên thuộc linh, trở nên một hay được xây dựng

YÊU THƯƠNG NGƯỜI KHÁC

Ngoài tất cả những vấn đề đã được nói đến, chúng ta cũng cần chỉ ra tầm quan trọng của việc yêu thương người khác. Chúng ta cần yêu tất cả mọi người, đặc biệt là những ai đã thừa nhận danh Chúa Jesus. Nếu không yêu tất cả các tín đồ thì chúng ta hẹp hòi và có tư tưởng bè phái. Chúng ta không chỉ nên yêu những người đáng yêu mà đặc biệt là yêu những người không đáng yêu. Trong Ma-thi-ơ 5:46 Chúa Jesus nói “Nếu các ngươi yêu kẻ yêu mình, thì có được phần hưởng gì đâu? Kẻ thâu thuế há chẳng làm như vậy sao?” Trong nếp sống Hội thánh, chúng ta nên tôn trọng những chi thể thua kém hơn. Theo 1 Cô-rin-tô chương 12, những chi thể chẳng đẹp lại cần thiết hơn. Là một chứng cớ sống của Jesus và là một chứng cớ đối kháng của thời đại này, chúng ta ở đây không phải là một phần của Cơ Đốc giáo ngày nay mà vì Đấng Christ và Hội thánh. Vì điều này nên chúng ta cần yêu thương lẫn nhau.

ĐỪNG BAO GIỜ HÌNH THÀNH BÈ ĐẢNG

Trong nếp sống Hội thánh chúng ta không bao giờ nên hình thành bè đảng. Dù sự tạo thành bè đảng có là cố ý hay không, thì sự tồn tại của một bè đảng trong nếp sống Hội thánh đều luôn gây hại. Qua nhiều năm, tôi không hề thân mật đặc biệt với bất kì ai. Sự thân mật như vậy được hình bóng bởi mật trong Cựu Ước, là thứ cuối cùng trở nên men. Thân mật cá nhân là điều gì đó của sự sống thiên nhiên. Vì thế, đừng tạo nên những mối quan hệ thân mật theo lựa chọn thiên nhiên của anh em. Đặc biệt các chị em phải lưu ý đến cảnh báo này, bởi vì họ là những người đa cảm, rất dễ có “mật” trong mối quan hệ của họ với người khác. Các chị em đừng giành quá nhiều thời gian cho những ai hợp với sở thích cá nhân của mình; ngược lại hãy tương giao với những ai khác sự lựa chọn thiên nhiên của chị em. Nếu vì chứng cớ của Chúa thì chúng ta sẽ không làm điều gì liên quan đến bè đảng.

Nếu chúng ta thực hành tất cả các điểm được nói đến trong chương này thì Hội thánh sẽ phát triển và được xây dựng, sự khôi phục của Chúa sẽ lan rộng. Khi đó nếp sống Hội thánh sẽ là một chứng cớ sống. Trong các hoạt động có thể chúng ta khác nhau, nhưng trong sự phát ngôn về Đấng Christ và Hội thánh, chúng ta là một, không phải bởi vì các trưởng lão cố gắng làm chúng ta nên một, nhưng bởi chúng ta vì chứng cớ về sự hiệp một của Hội thánh trong Christ. Một chứng cớ mạnh mẽ về Đấng Christ và Hội thánh sẽ đánh bại kẻ thù và mở đường cho Chúa Jesus trở lại. Ngày nay, Chúa cần một chứng cớ sống và mạnh mẽ như vậy. Điều này phụ thuộc vào tất cả chúng ta. Nguyện chúng ta không làm cho Ngài thất vọng!