Thông tin sách

Ý Nghĩa Và Mục Đích Của Sự Cầu Nguyện

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: The meaning and purpose of prayer
ISBN: 978-0-7363-6381-5
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 4

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG BỐN

BÍ QUYẾT ĐỂ TIẾP XÚC CHÚA

Kinh Thánh: Gi. 2:3-5; 4:15-21, 23-24; 6:26-27; 11:3, 5-6, 17, 21-28, 32-33, 35-40; 13:6-10; 21:2-6, 9-13, 15, 19

TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TIẾP XÚC CHÚA

Các học giả Kinh Thánh đều biết rằng Phúc Âm Giăng có một lối viết đặc biệt. Sách này rất đơn giản nhưng lại khá chi tiết. Giăng đã viết theo cách này để cho thấy cách Đức Chúa Trời tiếp xúc với con người. Cuối Phúc Âm Giăng, ông viết: “Cũng còn nhiều việc khác nữa mà Jesus đã làm; nếu chép lại từng điều một, thiết tưởng thế gian cũng không chứa xiết các sách phải chép đó” (21:25). Giăng không ghi lại hết mọi việc Chúa Jesus đã làm; đúng hơn, ông đã chọn ra một số điều để tỏ cho những người xa cách Đức Chúa Trời thấy cách mà Đức Chúa Trời đã đến tiếp xúc với con người. Để tiếp xúc với con người, Đức Chúa Trời đã trở nên sự sống của con người. Đức Chúa Trời đã bước vào trong con người để trở thành sự sống của con người và sống trong con người. Hơn nữa, Đức Chúa Trời muốn con người tiếp xúc với Ngài. Sự tiếp xúc này là điều mà chúng ta gọi là tương giao. Phúc Âm Giăng không chứa những từ ngữ như tiếp xúc hoặc tương giao, nhưng cho thấy rằng Đức Chúa Trời khao khát tiếp xúc và tương giao với con người. Trong Phúc Âm Giăng, chúng ta không chỉ thấy cách Đức Chúa Trời khiến con người có sự sống mà còn thấy Đức Chúa Trời muốn con người tiếp xúc với Ngài là như thế nào.

Phúc Âm Giăng tập trung vào hai điểm chính: Đức Chúa Trời vào trong chúng ta để trở nên sự sống của chúng ta, và Ngài khao khát chúng ta tiếp xúc Ngài. Điều trước liên quan đến vấn đề có sự sống còn điều sau liên quan đến vấn đề tiếp xúc Đức Chúa Trời. Tất cả những người tin vào Chúa đều đã giải quyết xong vấn đề sự sống. Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét vấn đề tiếp xúc Đức Chúa Trời.

Sau khi được cứu, điều quan trọng nhất là chúng ta cần tiếp xúc Đức Chúa Trời. Những ai đã học một số bài học thuộc linh đều biết rằng đời sống Cơ Đốc tùy thuộc vào tình trạng chúng ta tiếp xúc với Đức Chúa Trời. Nếu tiếp xúc và tương giao với Đức Chúa Trời cách đúng đắn, chúng ta sẽ là những Cơ Đốc nhân đúng đắn. Nếu không biết cách tiếp xúc với Đức Chúa Trời và thiếu tương giao với Ngài, chúng ta không thể là những Cơ Đốc nhân đúng đắn, dù chúng ta cố gắng nhiều đến đâu chăng nữa.

TIẾP XÚC CHÚA

Vấn đề tiếp xúc Chúa liên quan đến những nguyên tắc cụ thể. Chúng ta có thể phấn hưng buổi sáng mỗi ngày và cầu nguyện mỗi ngày mà không tiếp xúc Chúa. Nhiều lần chúng ta cầu nguyện mà không dẫn đến tiếp xúc Chúa, do đó chúng không ích lợi. Vì vậy, chúng ta phải học những nguyên tắc liên quan đến việc tiếp xúc Chúa.

Có nhiều trường hợp trong Phúc Âm Giăng cho thấy chúng ta nên tiếp xúc Chúa như thế nào. Chúng ta không có thời gian để đi qua hết tất cả các trường hợp, nhưng chúng ta sẽ chọn ra vài trường hợp quan trọng và suy xét những điểm chính có liên quan. Nếu thật sự muốn tiếp xúc Chúa, chúng ta cần thấy vài nguyên tắc trong việc tiếp xúc với Ngài qua những trường hợp này.

Không Hướng Dẫn Chúa

Trường hợp đầu tiên là Chúa hóa nước thành rượu trong chương 2. Câu 11 chép: “Jesus bắt đầu làm những dấu hiệu của Ngài”. Từ Hy Lạp là những dấu hiệu được dịch là “những phép lạ” trong bản Chinese Union. Một dấu hiệu là một biểu tượng có ý nghĩa thuộc linh. Vì vậy, những phép lạ được Chúa Jesus thực hiện trong Phúc Âm Giăng, một mặt là những phép lạ, và mặt khác là những dấu hiệu. Chúa đã sử dụng những phép lạ cụ thể, hữu hình để cho thấy những vấn đề thuộc linh, vô hình. Do đó, những trường hợp chúng tôi liệt kê sẽ cho thấy các nguyên tắc thuộc linh. Nếu có thể nhận ra những điểm chính và những nguyên tắc trong các trường hợp này, chúng ta sẽ thấy được bí quyết để tiếp xúc Chúa.

Nguyên tắc quan trọng trong trường hợp đầu tiên là chúng ta không được hướng dẫn Đức Chúa Trời khi tiếp xúc Ngài. Mọi uy quyền phải ở trong tay Ngài. Vì thế, cả việc định thời gian và cách chúng ta làm mọi việc đều phải được Ngài quyết định và hướng dẫn, chứ không phải chúng ta. Chúng ta không thể nói: “Chúa ơi, hãy làm điều này,” hoặc “Chúa ơi, hãy làm điều kia”. Nếu chúng ta nói như vậy, Chúa có thể nói: “Ta với ngươi có can gì chăng?” (c. 4). Nếu tiếp xúc với Ngài như vậy, chúng ta có thể bị Ngài từ chối và cự tuyệt. Điều này không có nghĩa là Chúa không muốn tiếp xúc với chúng ta hay Ngài không chịu trách nhiệm cho những vấn đề của chúng ta. Chúa vào trong chúng ta để tiếp xúc với chúng ta và chịu trách nhiệm cho những việc của chúng ta, như thể Ngài dự đám cưới tại Ca-na.

Hôn nhân là trung tâm của đời sống con người, và tiệc cưới tượng trưng cho sự vui thỏa của đời sống con người. Chúa đã đến trái đất và vào trong chúng ta để trở nên trung tâm của đời sống con người chúng ta và sự vui thỏa của đời sống con người chúng ta. Ngài không đến để phớt lờ hoặc không quan tâm đến những việc của chúng ta. Ngài đến để gánh trách nhiệm về những việc của chúng ta. Tuy nhiên, với điều kiện tiên quyết là chúng ta phải trao cho Ngài mọi uy quyền và cho Ngài quyền tự do hoàn toàn.

Trong tiệc cưới tại Ca-na, khi rượu đã cạn thì Ma-ri, mẹ của Jesus, nói với Chúa rằng: “Người ta không còn rượu nữa” (c. 3). Bà nói vậy để giục Chúa làm điều gì đó. Mặc dù bà truyền cho Chúa làm điều gì đó nhưng bà đã bị cự tuyệt. Chúa nói rằng: “Đàn bà kia ơi, Ta với ngươi có can gì chăng? Giờ Ta chưa đến” (c. 4). Vì đã học tập một số bài học trước mặt Đức Chúa Trời nên sau khi bị cự tuyệt, Ma-ri nói với các tôi tớ: “Hễ Người bảo gì hãy làm theo” (c. 5). Bà nhận ra rằng chỉ có Chúa mới là người quyết định, không phải bà; chỉ có Chúa mới là người chỉ bảo, không phải bà; và Chúa là người có lời cuối cùng, không phải bà.

Sự kiện rượu hết có nghĩa là điều gì đó mang tính trung tâm và cốt yếu đang bị thiếu tại tiệc cưới. Vì có Chúa ở đó nên chắc chắn Ngài quan tâm đến bữa tiệc. Ngài không muốn đứng đó mà không làm gì. Tuy vậy, Ma-ri, mẹ của Chúa trong xác thịt, là người đại diện cho chúng ta trong cách tiếp xúc Chúa, đã đến với Chúa để đề nghị Ngài làm điều gì đó. Bà đã làm như vậy với ý định tốt. Khi tiếp xúc Chúa, chúng ta phải nhận thức rằng ý định của chúng ta không nên đi trước ý định của Ngài.

Thỉnh thoảng chúng ta cảm thấy khi đến gần Chúa vào buổi sáng, chúng ta có một nhu cầu. Nếu đã học được bài học này, chúng ta sẽ biết rằng mình không được quá vội vàng mang nhu cầu này đến với Chúa. Nếu chúng ta biết mình có nhu cầu, Chúa chắc hẳn cũng biết; vì vậy, thay vì đề nghị, chúng ta nên chờ đợi Ngài trong hiện diện của Ngài. Nếu quá nhanh chóng đưa ra đề nghị, chúng ta có thể bị cự tuyệt và cảm thấy Chúa không lắng nghe lời cầu nguyện của chúng ta. Dường như Ngài từ chối chúng ta và phán rằng: “Ta với ngươi có can gì chăng?” Nhưng không phải Ngài từ chối chúng ta mà chỉ từ chối lời đề nghị, lời chỉ bảo của chúng ta. Ngài biết nhu cầu của chúng ta rõ hơn chúng ta, và Ngài muốn giải quyết điều đó hơn cả chúng ta. Chúng ta không cần đề nghị hay chỉ bảo Chúa. Những người có thể cầu nguyện trong hiện diện của Chúa mà không đưa ra đề nghị nào là những người biết cách cầu nguyện. Điều này không phải dễ.

Bữa tiệc chắc đã hết rượu một lúc rồi, nhưng dường như Chúa không làm gì cả. Đây là một thử nghiệm cho Ma-ri, và bà nói: “Người ta không còn rượu nữa”, nghĩa là Chúa nên làm điều gì đó. Chúa đã cự tuyệt bà mà phán rằng: “Đàn bà kia ơi, Ta với ngươi có can gì chăng? Giờ Ta chưa đến” (c. 4). Dường như Chúa nói rằng: “Ngươi không thể hướng dẫn Ta, chỉ bảo Ta, hay đề nghị Ta phải làm gì. Giờ Ta chưa đến. Ta quyết định thời điểm của Ta. Ta không ở dưới sự hướng dẫn của ngươi”.

Đây là một bài học rất tốt để học tập. Khi đến với Chúa, ít khi chúng ta cho Ngài cơ hội để phát ngôn. Chúng ta thường nói: “Chúa ơi, hãy làm điều này; Chúa ơi, hãy làm điều kia. Hãy nhìn vào tình trạng của Hội thánh. Hãy phục hồi các anh chị em”. Càng cầu nguyện như vậy, chúng ta càng khô cạn bên trong, và càng ít chạm đến hiện diện của Chúa. Cảm nhận về sự khô khan và thiếu hiện diện của Ngài chính là cách Chúa phán: “Ta với ngươi có can gì chăng? Giờ Ta chưa đến. Ta sẽ quan tâm, chịu trách nhiệm và giải quyết những vấn đề này, nhưng Ta sẽ quyết định khi nào và bằng cách nào. Ta quyết định thời điểm của Ta; Ta không ở dưới sự hướng dẫn của ngươi”.

Chương 11 cho một ví dụ khác về nguyên tắc này. Ma-thê trong chương 11 cũng giống Ma-ri trong chương 2. Trong chương 2 thì rượu hết, còn trong chương 11 thì có một người sắp chết. Chúa không làm gì ngay lập tức khi rượu hết; thay vì thế, Ngài chờ đợi trước khi hóa nước thành rượu. Cũng vậy, trong chương 11 Chúa không làm gì khi La-xa-rơ sắp chết; thay vì thế, Ngài chờ vài ngày sau khi người ấy đã chết trước khi Ngài đến khiến ông sống lại. Chúa không nghe những lời của Ma-thê hay Ma-ri, cả hai bà đều muốn dùng ý kiến của mình để hướng dẫn Chúa.

Chúng ta phải luôn nhớ rằng nguyên tắc đầu tiên phải học khi tiếp xúc Chúa là ngưng lời chỉ bảo của chúng ta lại và để Chúa phát ngôn. Một mặt, chúng ta phải học tập đến gần Chúa; mặt khác, khi đến gần Ngài, chúng ta phải học tập không phát ngôn, tức là không đưa ra những đề nghị. Biến nước thành rượu là cần thiết, nhưng Chúa biết nhu cầu này rõ hơn Ma-ri. Hội thánh cần được phục hưng và tín đồ cần được biến đổi, nhưng Chúa biết những nhu cầu này rõ hơn chúng ta. Bài học chúng ta phải học là thờ phượng và tôn trọng Ngài là Chúa. Chúng ta phải lắng nghe những gì Ngài nói và làm những gì Ngài muốn. Chúng ta không được đưa ra nhiều đề nghị trong lời cầu nguyện. Đây là nguyên tắc đầu tiên chúng ta phải học khi tiếp xúc Chúa trong sự cầu nguyện.

GIAO NỘP TỘI CỦA CHÚNG TA

Sự kiện người đàn bà Sa-ma-ri tiếp xúc Chúa trong chương 4 minh họa nguyên tắc thứ hai. Ở đây, người đàn bà Sa-ma-ri nhận thức rằng bà đang khát và Chúa có nước sống. Vì vậy, bà xin Chúa nước sống. Tuy nhiên, Chúa không ban cho bà nước sống này ngay; thay vì thế Ngài hỏi bà một câu. Bà thì xin Chúa nước sống, còn Chúa thì hỏi về chồng của bà (cc. 15-16). Khi hỏi về chồng bà, Chúa đã chạm đến đời sống tội lỗi của bà; các tội của bà có liên hệ đến chồng bà. Vì vậy, qua việc hỏi về chồng bà, Chúa đã hỏi bà về các tội của bà, chỉ ra các tội của bà. Dường như Chúa phán: “Con muốn nước sống ư? Con nên giao nộp các tội của con. Con muốn được thỏa lòng ư? Con nên để ý đến các tội của mình”.

Ở đây chúng ta thấy một nguyên tắc khác. Vì biết rằng Chúa có thể đáp ứng nhu cầu của chúng ta nên chúng ta thường đến với Chúa và phát hiện ra một nhu cầu. Khi thấy nhu cầu, chúng ta xin Chúa đáp ứng nhu cầu đó. Tuy nhiên, trong khi chúng ta cầu xin, Chúa chỉ cho chúng ta thấy sự ô uế, tội lỗi và thất bại của chúng ta; tức là Ngài cho chúng ta thấy những vấn đề cần được xử lý. Nhiều người trong chúng ta có kinh nghiệm như vậy.

Nếu một đứa trẻ xin tôi điều gì đó, có thể tôi sẽ bảo cậu bé giơ bàn tay ra xem có sạch hay không. Sau khi cậu bé rửa tay, tôi có thể bảo cậu đi rửa mặt. Đôi khi cậu bé cần phải rửa nhiều lần cho sạch. Khi đến với Chúa trong sự cầu nguyện, tình trạng thường xuyên của chúng ta là như vậy. Khi chúng ta nói với Chúa về điều chúng ta cần, Ngài bảo chúng ta đi về gọi “chồng” của chúng ta đến. Chúng ta nói với Ngài nhu cầu của mình, nhưng Ngài chỉ ra những nan đề của chúng ta. Đây là một nguyên tắc khác khi đến gần Chúa.

Chúng ta thường kinh nghiệm nguyên tắc này sau khi bị Ngài cự tuyệt vì cố chỉ bảo Ngài hoặc hướng dẫn Ngài. Chúa không muốn chúng ta cầu nguyện cho nhiều điều hoặc cho người khác; Ngài muốn khải thị cho chúng ta thấy tình trạng của chính chúng ta. Tuy nhiên, khi chúng ta xin Ngài đáp ứng các nhu cầu của mình, Ngài lại chỉ ra các nan đề của chúng ta, hết điều này đến điều khác. Chúng ta thường kinh nghiệm hai điều này khi đến gần Chúa và tiếp xúc với Ngài. Một mặt, Ngài cho chúng ta thấy nhu cầu của chúng ta; mặt khác, một khi chúng ta khát và kêu xin Ngài, thì Ngài chỉ ra những nan đề, sai lầm, nhơ nhuốc và tội lỗi của chúng ta. Chúng ta cần xưng nhận những điều Ngài chỉ ra, đó là “người chồng” mà Ngài bảo chúng ta đem tới, hầu chúng ta có thể nhận sự cung ứng của Ngài.

Tập Trung Vào Những Vấn Đề Thuộc Linh Hơn Những Vấn Đề Thuộc Thể

Nguyên tắc thứ ba được thấy trong trường hợp cho năm ngàn người ăn trong chương 6. Một quần chúng đông tiếp xúc với Chúa và Ngài thực hiện một phép lạ để cho họ ăn. Ngày hôm sau, khi quần chúng quay lại để lại được ăn no, thì Chúa phán: “Chớ làm việc vì đồ ăn hay hư mất, nhưng vì đồ ăn còn lại cho đến sự sống đời đời” (c. 27). Chúa đã dạy quần chúng tìm kiếm thức ăn còn lại cho đến sự sống đời đời thay vì thức ăn thuộc thể. Đây là một nguyên tắc khác: Chúa không muốn chúng ta tìm kiếm hay đặt hy vọng vào những điều vật chất khi chúng ta tiếp xúc Ngài trong sự cầu nguyện.

Một số anh em dành nửa tiếng buổi sáng để cầu nguyện cho những điều thuộc thể. Cũng vậy, vài chị em cầu nguyện cho những việc thuộc thể của chồng con họ. Ban đầu, Chúa có thể cho ăn và chăm sóc những ai đến gần Ngài trong sự cầu nguyện như vậy, nhưng cuối cùng Chúa sẽ xem một người như vậy là người chỉ đến để ăn và được no. Chúa sẽ phán: “Đừng cầu nguyện cho những điều thuộc thể; thay vào đó, hãy học cầu nguyện cho những điều thuộc về sự sống đời đời, cho những điều thuộc linh”. Chúa không muốn chúng ta luôn đề cập đến những điều thuộc thể khi chúng ta tiếp xúc với Ngài; Ngài biết những điều đó rồi. Khi tiếp xúc với Ngài, chúng ta nên tập trung vào những điều thuộc linh, những điều thuộc về sự sống. Đây là tìm kiếm vương quốc và sự công chính của Ngài trước hết. Nếu chúng ta tập trung vào những điều này, Chúa sẽ thêm những điều thuộc thể cho chúng ta (Mat. 6:31-33)

Nếu đến với Chúa mà chúng ta chỉ tập trung vào những điều thuộc thể, chúng ta sẽ khó chạm được hiện diện của Ngài, và chúng ta sẽ bị Ngài khước từ trong linh. Chẳng hạn, các thánh đồ dành nhiều thời gian để đến gần Chúa vào buổi sáng là rất tốt, nhưng họ có chạm đến Chúa trong suốt thời gian này hay không là tùy thuộc vào sự tập trung của họ. Nếu chúng ta xao lãng những vấn đề thuộc linh mà thay vào đó tập trung vào những điều thuộc thể, thì sẽ khó chạm đến Chúa. Một số tín đồ là sinh viên lo lắng cho việc học hành, và họ cầu nguyện về những điều này vào buổi sáng. Nếu họ bị những điều này ngăn trở khi đến gần Chúa thì họ sẽ khó chạm được hiện diện của Ngài. Sự tìm kiếm như vậy không vì sự sống đời đời hay những điều thuộc linh mà vì những điều thuộc thể. Đây là vấn đề tìm cách được ăn bánh và được no nê.

Các thánh đồ khác thì tập trung vào bệnh tật của họ khi họ đến gần Chúa. Họ không thể thoát ra khỏi bệnh tật của họ trong cả suy nghĩ lẫn khi cầu nguyện. Họ cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, cảm ơn Ngài đã làm cho con được ích lợi từ bệnh tật của con. Khi nào Ngài sẽ chữa lành cho con? Con phải chờ đợi bao lâu nữa?” Những lời cầu nguyện như vậy liên quan đến việc tìm cách ăn bánh và được no nê. Chúa sẽ trả lời những thánh đồ ấy rằng: “Chớ làm việc vì sự chữa lành; đừng cầu nguyện nhiều cho bệnh tật của con. Thay vào đó, hãy cầu nguyện cho những điều thuộc linh, cho những điều liên quan đến sự sống đời đời. Hãy quên đi bệnh tật của con! Hãy quên đi việc ăn bánh!” Điều này cũng không dễ làm.

Nhiều thánh đồ chỉ cầu nguyện cho những điều thuộc thể. Vài sinh viên y khoa trẻ, là bác sĩ thực tập trong bệnh viện, cầu nguyện với Chúa trong nỗi sợ hãi và run sợ mỗi sáng, rằng: “Chúa ơi, xin đừng để con làm điều gì sai hôm nay. Gìn giữ con để không chẩn đoán sai hay kê đơn thuốc sai. Xin đừng đem đến cho con bất kỳ bệnh nhân khó hoặc trao cho con bất kỳ gánh nặng nào”. Những lời cầu nguyện này có vẻ tốt, nhưng chúng vẫn liên quan tới việc ăn bánh và được no nê. Để đáp lời, Chúa sẽ nói: “Chớ làm việc để trở thành một thầy thuốc giỏi nhưng vì sự sống đời đời. Khi con đến gần Ta, đừng tập trung vào những điều này nhưng hãy tìm kiếm những điều thuộc linh”.

Một số chị em không thể quên công việc nhà của họ. Họ cầu nguyện: “Chúa ơi, xin hãy khiến cho các tôi tớ biết vâng lời và cho con cái con siêng năng học hành, giữ cho gia đình con an toàn khỏi các tai nạn”. Có bao nhiêu chị em không cầu nguyện cho gia đình của họ? Những lời cầu nguyện này đều liên quan đến việc ăn bánh và được no nê. Chúa sẽ nói với những chị em này chớ làm việc cho gia đình của họ nhưng hãy cầu nguyện cho những điều thuộc linh liên quan tới sự sống đời đời.

Vài thánh đồ có thể nói rằng lời này thật khó và tự hỏi họ nên cầu nguyện cho điều gì. Nếu các chị em là nội trợ mà không cầu nguyện cho gia đình của họ thì họ nên cầu nguyện cho điều gì? Nếu các thầy thuốc không cầu nguyện cho những vấn đề y học thì họ nên cầu nguyện cho điều gì? Chúng ta nghĩ rằng các anh em làm kinh doanh nên cầu nguyện cho việc kinh doanh của họ, các sinh viên nên cầu nguyện cho việc học hành của họ và các thánh đồ bị bệnh nên cầu nguyện cho bệnh tật của họ. Nhưng nếu không cầu nguyện cho những vấn đề như vậy thì chúng ta nên cầu nguyện cho điều gì?

Nếu muốn đến gần Chúa và tiếp xúc Ngài mỗi ngày, chúng ta phải học bài học không tập trung vào những điều thuộc thể. Chúng ta phải gạt bỏ những điều ấy để tìm kiếm chính Chúa, tìm kiếm những điều thuộc linh, những điều thuộc về sự sống và những điều đời đời. Chúa biết công việc kinh doanh, gia đình, học hành và sức khỏe của chúng ta rõ hơn chúng ta. Cha trên trời của chúng ta biết mọi thứ chúng ta cần. Đây là những điều mà dân Ngoại, những người không biết Đức Chúa Trời, tìm kiếm. Tuy nhiên, trước hết chúng ta nên tìm kiếm vương quốc Đức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, và làm việc vì những điều còn lại cho đến sự sống đời đời, không vì những điều hư mất (6:31-33; đc. Gi 6:27). Đây là nguyên tắc chủ yếu trong khi tiếp xúc Chúa.

Ý Kiến Con Người Ngăn trở Quyền Năng Của Chúa Đem Đến Một Khởi Đầu Mới

Một trường hợp khác bày tỏ ít nhất hai nguyên tắc trọng yếu: ý kiến con người ngăn trở quyền năng của Chúa, và Chúa chỉ có thể bắt đầu khi con người kết thúc. Chương 11 cho thấy ý kiến con người ngăn trở quyền năng của Chúa là như thế nào. Ma-thê và Ma-ri nhắn với Chúa rằng: “Thưa Chúa, này kẻ Chúa yêu mến đang đau” (c. 3). Đây là bày tỏ ý kiến để Chúa đến chữa lành cho anh của họ là La-xa-rơ. Nhưng Chúa không trả lời. Ngài nghe tiếng khóc của họ, nhưng Ngài không làm gì cả. Chúa yêu ba anh chị em này, Ngài đã nghe tiếng khóc của Ma-thê và Ma-ri, nhưng Ngài vẫn ở lại nơi Ngài đang ở thêm hai ngày nữa. Ngài không làm bất cứ điều gì cho đến khi La-xa-rơ chết và được chôn (cc. 5-6, 17). Điều đầu tiên Ma-thê làm khi thấy Chúa là than van rằng Ngài đến trễ. Bà nói: “Thưa Chúa, nếu Chúa có đây thì anh tôi không chết” (c. 21). Mặc dù bà than phiền vì sự trì hoãn của Chúa, nhưng Chúa dạy bà đừng dựa vào thời điểm bà sắp xếp mà hãy dựa vào chính Ngài. Chúa phán rằng: “Ta là sự sống lại và sự sống” (c. 25). Ngài muốn nói rằng tình trạng của La-xa-rơ không phụ thuộc vào việc Ngài đến sớm hay muộn. Thế nên, dù La-xa-rơ đã chết, ông vẫn có thể sống lại vì Chúa đã đến. Chúa Jesus là sự phục sinh. Khi có Ngài, chúng ta có mọi sự. Công tác của Chúa không dựa trên thời điểm của chúng ta.

Đây là bài học rất hay, nhưng Ma-thê không hiểu những lời của Chúa. Chúa phán: “Kẻ nào tin Ta, dẫu đã chết, cũng sẽ sống; còn hễ ai sống mà tin Ta, thì đời đời hẳn chẳng hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?” (cc. 25-26). Ma-thê lập tức nói rằng: “Thưa Chúa, phải, tôi đã tin Ngài là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời” (c. 27). Ma-thê không tin lời Chúa mà tin điều khác. Chúa nói ra một khải thị, nhưng Ma-thê lại tập trung vào sự hiểu biết của mình. Bà không lắng nghe khải thị của Chúa vì những ý kiến của bà. Ma-thê là một người đầy ý kiến.

Sau đó, Ma-thê đi gọi Ma-ri, em gái mình, mà nói rằng: “Thầy đến kia và gọi em” (c. 28). Một lần nữa, điều này là theo ý kiến của Ma-thê, không phải yêu cầu của Chúa. Cụm từ Thầy đến kia là đúng, nhưng cụm từ đang gọi em thì không đúng. Khi Ma-ri nhìn thấy Chúa Jesus, bà cũng nói: “Thưa Chúa, nếu có Ngài đây thì anh tôi không chết” (c. 32). Chúa Jesus đi với một linh bức bối và bối rối khi Ngài thấy Ma-ri khóc và những người Do Thái đi với bà cũng khóc (cc. 33, 35). Chúa không khóc vì La-xa-rơ chết. Chúa khóc vì Ma-thê và Ma-ri không biết Ngài và vì tình trạng thuộc linh của họ thật đáng thương. Chúa đã khóc vì họ ngu muội về vấn đề thuộc linh.

Một người chịu đau đớn dưới sự kỷ luật của Chúa nhưng vẫn ngu muội không biết Chúa cũng như điều Ngài muốn. Một người như vậy thì đầy ý kiến riêng và có nhiều điều để nói. Tình trạng của người ấy sẽ làm buồn lòng Chúa. Những người Do Thái thấy Chúa khóc thì bày tỏ những ý kiến khác nhau. Điều này làm cho Chúa càng bức bối hơn (c. 38). Khi Chúa đến mộ và yêu cầu dỡ tảng đá đặt trước hang, Ma-thê vẫn còn thêm ý kiến. Bà nói: “Thưa Chúa, bây giờ anh ấy đã bốc mùi, vì chết đã bốn ngày rồi” (c. 39). Bà là một người đầy ý kiến.

Chương 11 cho thấy những ý kiến của con người ngăn trở quyền năng của Chúa là như thế nào. Chúa không chỉ bị ngăn trở bởi những ý kiến của Ma-thê, Ma-ri và người Do Thái, Ngài còn bị ngăn trở bởi ý kiến của các môn đồ Ngài. Ma-thê và Ma-ri muốn Chúa đến khi Ngài không sẵn sàng. Sau đó, khi Chúa muốn đi thì các môn đồ Ngài không muốn Ngài đi (cc. 3-16). Những ý kiến của con người ngăn trở sự biểu lộ quyền năng phục sinh của Chúa. Một mặt, Chúa muốn làm điều gì đó; Ngài muốn thực hiện một phép lạ, biểu lộ quyền năng của Ngài trong việc khiến kẻ chết sống lại. Mặt khác, ý kiến của con người gây cản trở cho mỗi bước Ngài tiến hành và gây ra những nan đề. Có vẻ như Chúa cần phá đổ mọi ý kiến trước khi Ngài có thể biểu lộ năng quyền phục sinh của Ngài. Những ý kiến này của con người là những bụi rậm và gai góc trên con đường Chúa bước vào sự phục sinh. Ma-thê, Ma-ri, những người Do Thái và các môn đồ đều đầy ý kiến. Chúa phải loại bỏ các ý kiến của con người trước khi Ngài có thể vào trong sự phục sinh. Ý kiến của con người cản trở chúng ta tiếp xúc Chúa.

Khi đến gần Chúa trong sự cầu nguyện, chúng ta phải học bài học ngưng các ý kiến của chúng ta lại. Dù cho rượu hết hay một người đã chết bốn ngày, chúng ta cũng không cần phải chỉ bảo Chúa. Chúng ta chỉ đơn giản dâng điều đó cho Chúa và lắng nghe những gì Ngài phát ngôn. Chúa là mọi sự. Ngài ban sự sống cho kẻ chết và gọi những sự không có như đã có (La. 4:17). Ngài là sự sống lại và sự sống (Gi. 11:25). Chúng ta không cần nói thế này hay thế kia; chúng ta chỉ nên đơn giản lắng nghe Ngài. Một ý kiến là một nan đề. Nhiều người đến gần Chúa đều có một thời gian khó khăn để học bài học này.

Giăng chương 11 trình bày một nguyên tắc khác: Chúa không chữa lành cho con người mà Ngài khiến con người sống lại. Chữa lành liên quan đến việc giúp đỡ cho sự yếu đuối của con người, nhưng Chúa không làm điều này. Thay vì chữa lành cho La-xa-rơ ngay, Chúa chờ cho La-xa-rơ chết để khiến ông sống lại, vì Chúa chỉ muốn làm cho con người sống lại. Sự phục sinh liên quan đến việc chờ đợi cho tới khi con người đến chỗ kết thúc để ban cho người ấy một khởi đầu mới. Ví dụ, một anh em yếu đuối, thường xuyên thất bại, dễ cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, con yếu đuối trong vấn đề này. Con không thể đắc thắng. Con là một người thất bại”. Những lời cầu nguyện như vậy dường như rất tốt, nhưng chúng lại ngăn cản Chúa. Có thể chúng ta yếu đuối, nhưng chúng ta không yếu đuối đến mức mất hết hy vọng. Có thể chúng ta là một người thất bại, nhưng chúng ta không thất bại đến cực điểm. Chúa phải chờ đợi đến khi chúng ta yếu đuối cách vô vọng, đến khi chúng ta thất bại hoàn toàn, và đến khi chúng ta hoàn toàn chết trước khi Ngài có thể biểu lộ quyền năng phục sinh của Ngài trong chúng ta.

Như vậy, khi đến gần Chúa chúng ta nên để sự yếu đuối và thất bại của mình ra đi. Chúa đã biết những yếu đuối và thất bại của chúng ta rồi. Chúng ta không thể làm điều gì nếu Ngài muốn trì hoãn và chờ đến khi chúng ta không còn hy vọng nào vì chúng ta đã chết, được chôn và bốc mùi hôi thối. Nếu Ngài muốn chờ đợi, chúng ta không thể hối thúc Ngài. Nếu Ngài cho phép chúng ta bị đánh bại, thì thậm chí việc chúng ta cầu khẩn Ngài cũng không làm cho chúng ta mạnh mẽ. Vì vậy, chúng ta cần học bài học buông bỏ các nan đề của mình khi cầu nguyện. Khi chúng ta thực sự vô vọng và chấm dứt, Chúa sẽ đến. Đây chính là sự phục sinh, và đây là sự cứu rỗi.

Để Chúa Làm Điều Ngài Muốn Trong Chúng Ta

Trong chương 13, Chúa rửa chân cho các môn đồ Ngài. Trong trường hợp này, nguyên tắc ấy liên quan đến vấn đề là khi đến gần Ngài, chúng ta cần để Ngài làm điều Ngài muốn trong chúng ta. Chúng ta không nên giống như Phi-e-rơ, ông khiêm nhường thưa rằng: “Đến đời đời Ngài hẳn chẳng hề rửa chân tôi đâu”. Khi ấy, Chúa đáp rằng: “Nếu Ta không rửa cho anh, thì anh chẳng có phần chi với Ta”. Phi-e-rơ bèn nói rằng: “Thưa Chúa chẳng những chân tôi thôi, mà lại cũng tay và đầu tôi nữa” (cc. 8-9). Đây là tình trạng của chúng ta. Chúa muốn hành động trong chúng ta, nhưng lúc đầu chúng ta không để Ngài hành động. Sau đó, khi đã sẵn sàng, chúng ta lại muốn Ngài làm nhiều hơn điều Ngài dự định. Đây là những ý kiến của con người chúng ta.

Khi chúng ta đến gần Chúa, Ngài muốn hành động trong chúng ta và loại bỏ đi một số điều. Rửa chân là dấu hiệu loại bỏ đi những điều không đúng đắn trong bản thể chúng ta. Chúng ta phải học tập vâng lời. Nếu Chúa muốn rửa chân cho chúng ta thì chúng ta nên để Ngài rửa chân. Nếu Ngài không muốn rửa tay chúng ta thì chúng ta nên thuận phục. Chúng ta nên để Chúa rửa sạch những gì Ngài muốn. Chúng ta không nên đề nghị hoặc chỉ bảo Ngài bất cứ điều gì. Đây là nguyên tắc thứ năm về việc tiếp xúc Chúa. Chúng ta phải học bài học này.

Biết Rằng Chúa Không Thay Đổi

Trong chương 21, Chúa tỏ Ngài ra cho các môn đồ. Trường hợp này cho thấy Chúa sẽ đến gần chúng ta ngay cả khi chúng ta sa vào thế giới, tức là khi chúng ta đang ở điểm yếu đuối nhất và quên đến gần Ngài. Các môn đồ trở lại công việc đánh cá để kiếm sống, nhưng họ không bắt được con cá nào. Chúa biết nhu cầu của họ, và hỏi rằng: “Các anh không có con cá nào để ăn sao?” (c. 5). Chúa biết các môn đồ đi đánh cá để có thức ăn. Họ thưa: “Không” (c. 5). Khi đó, Chúa bảo rằng: “Hãy thả lưới bên phải thuyền, thì các anh sẽ được” (c. 6). Họ thả lưới và bắt được một trăm năm mươi ba con cá lớn (c. 11). Khi họ vừa lên bờ thì thấy tại đó có lửa than, trên đó có để cá và bánh (c. 9).

Sau khi thấy cá mà họ bắt được ngày hôm đó và ăn cá do Chúa dọn sẵn, có lẽ các môn đồ đã suy ngẫm làm thế nào họ lại quay về nghề cũ trong thế giới để kiếm ăn. Chúa đã thực hiện phép lạ bằng cách cho họ bắt được một trăm năm mươi ba con cá lớn và dọn sẵn cá cho họ ăn. Sau khi ăn, có lẽ các môn đồ có đủ loại cảm xúc. Có lẽ Phi-e-rơ cảm thấy khó chịu hơn hết, vì không những ông quay lại thế giới mà còn dẫn các môn đồ khác theo ông. Sau khi ông nói: “Tôi đi đánh cá” thì các môn đồ khác đáp: “Chúng tôi cùng đi với anh”. Các môn đồ kéo nhau đi như một nhóm người yêu mến thế giới; họ cùng nhau sa vào thế giới. Tuy vậy, Chúa không bỏ rơi họ. Ngài tiếp tục chăm sóc họ. Ngài để họ bắt được cá, cũng cho họ ăn cá và bánh mà Ngài đã dọn sẵn. Khi họ dùng bữa xong, Chúa hỏi Phi-e-rơ: “Si-môn, con của Giăng ơi, anh có thương yêu Ta hơn những kẻ này chăng?” (c. 15). Bằng những lời này, Chúa cho các môn đồ Ngài biết rằng Ngài không thất vọng về họ; Ngài muốn họ tiếp tục theo Ngài và phụng sự Ngài.

Đây là nguyên tắc chính yếu khác trong việc tiếp xúc Chúa. Đừng bao giờ nghĩ rằng chúng ta không thể đến gần Chúa khi chúng ta yếu đuối, yêu thế giới và không cầu nguyện. Chúng ta không thể đến gần Chúa, nhưng Chúa có thể đến gần chúng ta. Chúng ta không thể tiếp xúc Ngài, nhưng Ngài sẽ tiếp xúc chúng ta. Về việc tiếp xúc Chúa, tất cả chúng ta đều thất bại. Phi-e-rơ đi đánh cá, chúng ta cũng “đi đánh cá” giống như ông. Chúng ta thất bại, nhưng Chúa không bao giờ thất bại. Khi chúng ta đến gần Ngài, Ngài tiếp xúc chúng ta, và thậm chí khi chúng ta không đến gần Ngài, Ngài vẫn đến để tiếp xúc chúng ta. Chúng ta không đáng tin cậy. Có thể hôm nay chúng ta tiếp xúc Chúa nhưng ngày mai lại không, hoặc có thể tháng này chúng ta tiếp xúc Chúa nhưng tháng sau thì không. Dù tình trạng của chúng ta có như thế nào thì Chúa vẫn y nguyên. Dù chúng ta có thay đổi như thế nào thì Chúa cũng không bao giờ thay đổi. Vì vậy, trong khi tiếp xúc Chúa, chúng ta phải nhận ra rằng dù chúng ta có thể thay đổi nhiều đến đâu đi nữa, Chúa cũng không bao giờ thay đổi. Đó là một nguyên tắc.

Chúng ta cần trông đợi sự phát ngôn của Thánh Linh và học tập cách đến gần Chúa và tiếp xúc với Ngài. Tôi muốn khích lệ các thánh đồ dành thời giờ suy ngẫm những nguyên tắc được trình bày trong các trường hợp này và học những bài học này. Nguyên tắc ngọt ngào nhất là việc chúng ta đến gần Chúa không nằm trong tay chúng ta mà nằm trong tay Chúa. Có thể chúng ta không đến gần Ngài, nhưng Ngài sẽ đến gần chúng ta. Có thể chúng ta xa cách Ngài, nhưng Ngài sẽ tìm thấy chúng ta. Thậm chí khi chúng ta ở điểm yếu đuối nhất, Ngài cũng sẽ đến gần chúng ta. Khi chúng ta xa cách Ngài, Ngài sẽ đến tiếp xúc với chúng ta. Thậm chí khi chúng ta lạnh lẽo và thờ ơ với Ngài hoặc sa vào thế giới, Ngài vẫn sẽ nói: “Con có yêu Ta chăng? Hãy theo Ta!”