Thông tin sách

Ý Nghĩa Và Mục Đích Của Sự Cầu Nguyện

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: The meaning and purpose of prayer
ISBN: 978-0-7363-6381-5
Mua sách tại:

Đang đọc: Chương 3

Tiếng ViệtTải về
Untitled Document

CHƯƠNG BA

MỤC ĐÍCH CỦA SỰ CẦU NGUYỆN

Kinh Thánh: Ês. 62:6-7; 45:11; Êxc. 22:30; Đa. 9:2-4; 1 Sa. 12:23; Xuất. 2:23-25; 3:7-8

MỤC ĐÍCH CỦA SỰ CẦU NGUYỆN LÀ ĐỒNG CÔNG VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI

Trong những chương trước, chúng tôi đã nói rằng cầu nguyện là để con người hấp thụ và bày tỏ Đức Chúa Trời. Mọi lời cầu nguyện mà chạm đến Đức Chúa Trời đều có hai phương diện này. Một mặt, chúng ta hấp thụ Đức Chúa Trời bằng cách tiếp xúc Ngài. Mặt khác, bởi tiếp xúc và hấp thụ Đức Chúa Trời, chúng ta để Ngài bày tỏ chính Ngài trong chúng ta, tức là chúng ta thốt ra những lời cầu nguyện đích thực. Trong chương này, chúng ta tiếp tục xem xét về sự cầu nguyện. Những lời cầu nguyện thật thì bao gồm nhiều phương diện hơn là chỉ hấp thụ Đức Chúa Trời và bày tỏ Ngài. Hấp thụ và bày tỏ Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện thực ra là để chuẩn bị chúng ta cho sự cầu nguyện là điều làm cho chúng ta có thể hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện. Vì vậy, bây giờ chúng ta sẽ xem làm thế nào để mục đích của Đức Chúa Trời được hoàn thành trong sự cầu nguyện.

Một người biết cách cầu nguyện là người cầu nguyện, đồng công với Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể nói rằng mục đích của cầu nguyện là để đồng công với Đức Chúa Trời. Sự cầu nguyện của chúng ta không chỉ để hấp thụ Đức Chúa Trời và bày tỏ Ngài mà còn để đồng công với Đức Chúa Trời, tức là cùng làm việc với Ngài. Chẳng hạn, giả sử tôi đang đứng trên bục giảng với một anh em thông dịch, và trong khi tôi chia sẻ thì anh thông dịch. Khi chúng tôi phối hợp như vậy, chúng tôi đang đồng công, cùng làm việc với nhau. Nếu tôi không nói thì anh không thể dịch, nếu anh không dịch thì tôi không có cách nào để chia sẻ. Hai chúng tôi lặp lại lời của nhau bằng cách cùng làm việc trên một điều. Đây chính là đồng công, phối hợp. Thí dụ này giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của đồng công và phối hợp.

Đôi khi, anh em thông dịch có thể phối hợp rất tốt với tôi, anh hoàn toàn làm một với tôi. Khi tôi hơi lắc lư, anh cũng lắc lư như vậy khi dịch. Anh lặp lại những cử chỉ của tôi. Khi tôi cao giọng thì anh cao giọng. Khi tôi nói chậm, anh nói chậm. Khi tôi tỏ ra nghiêm trọng, anh cũng tỏ ra nghiêm trọng. Anh giống hệt như tôi. Hai chúng tôi giống như một người; vì thế, người khác thấy được một sự phối hợp và đồng công hoàn hảo. Đây là cách chúng ta nên phối hợp và đồng công với Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện.

Chúng ta thường nghĩ rằng mục đích của cầu nguyện là xin Đức Chúa Trời làm việc, làm những điều nào đó. Tuy nhiên, mục đích của cầu nguyện là để chúng ta làm việc và làm những điều nào đó với Đức Chúa Trời, tức đồng công với Đức Chúa Trời.

Các câu trong phần Kinh văn cho thấy một nguyên tắc. Nếu con người không cầu nguyện thì Đức Chúa Trời sẽ không làm việc; nếu không có ai cầu nguyện thì Đức Chúa Trời sẽ không có việc để làm. Tại bất kỳ thời điểm đã định nào, Đức Chúa Trời đều phải tìm được vài người hay một người đồng công với Ngài để cầu nguyện cho những gì Ngài định thực hiện trên đất. Nếu không có ai cầu nguyện, Đức Chúa Trời sẽ không có đồng công và Ngài không thể hành động. Chẳng hạn, khi tôi chia sẻ tại Hồng Kông, nếu không có người thông dịch để dịch tiếng phổ thông sang tiếng Quảng Đông thì tôi không có ai đồng công và do đó tôi không thể chia sẻ sứ điệp. Phải chờ cho đến khi có một người thông dịch là đồng công của tôi thì tôi mới có thể chia sẻ. Trái lại, nếu tôi không chia sẻ thì người thông dịch sẽ không có gì để dịch. Trong công tác của Đức Chúa Trời, những người cầu nguyện không chỉ thực hiện chức năng thông dịch mà còn là người phát ngôn. Ví dụ, người thông dịch sẽ nói những gì tôi nói; và tôi nói bao nhiêu, người ấy sẽ dịch bấy nhiêu. Cũng vậy, lời cầu nguyện có hiệu quả là Đức Chúa Trời hoàn thành những gì chúng ta cầu nguyện, chúng ta cầu nguyện bao nhiêu, Ngài hoàn thành bấy nhiêu. Lời cầu nguyện của chúng ta có thể ví như chia sẻ một bài giảng còn hành động của Đức Chúa Trời có thể ví như việc thông dịch. Mức độ chúng ta cầu nguyện chính là mức độ Đức Chúa Trời hành động. Những ai chúng ta nhắc đến trong khi cầu nguyện là những người mà Đức Chúa Trời sẽ hành động trên họ, những gì chúng ta cầu nguyện là những gì Đức Chúa Trời đang làm, và cách chúng ta cầu nguyện là cách Đức Chúa Trời hoàn thành. Đây là nguyên tắc vĩ đại về sự cầu nguyện.

Vì lí do này, cầu nguyện là một vấn đề cao trọng trong cách nhìn của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời cần sự cầu nguyện của chúng ta để dẫn đường cho công tác của Ngài. Mức độ cầu nguyện của chúng ta là mức độ công tác của Đức Chúa Trời, và những gì chúng ta cầu nguyện là những gì Đức Chúa Trời thực hiện. Dường như sự cầu nguyện của chúng ta dẫn đường cho công tác của Đức Chúa Trời và công tác của Ngài đi theo sự cầu nguyện của chúng ta. Nếu chúng ta đang thiếu công tác của Đức Chúa Trời chứng tỏ là chúng ta đang thiếu cầu nguyện. Nếu không thấy Đức Chúa Trời cứu người chứng tỏ là chúng ta không cầu nguyện cho người khác được cứu. Nếu chúng ta không thấy Đức Chúa Trời đang chuyển động trong Hội thánh chứng tỏ là chúng ta không cầu nguyện cho chuyển động của Ngài. Đức Chúa Trời không hành động khi con người không cầu nguyện. Mức độ của công tác Đức Chúa Trời tùy thuộc vào mức độ cầu nguyện của chúng ta. Khi chúng ta cầu nguyện một ít, Đức Chúa Trời chỉ hành động một ít. Nếu Đức Chúa Trời không hành động nhiều, đó là do con người không cầu nguyện nhiều. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng công tác của Đức Chúa Trời đi trước sự cầu nguyện của chúng ta. Sự cầu nguyện của chúng ta dẫn đường và công tác của Đức Chúa Trời theo sau. Chìa khóa nằm ở nơi chúng ta. Nếu chúng ta cầu nguyện, Đức Chúa Trời sẽ hành động, nhưng nếu chúng ta không cầu nguyện, Ngài sẽ không hành động.

Vì cầu nguyện rất quan trọng nên sự cầu nguyện thật là phải tiếp xúc, hấp thụ và bày tỏ Đức Chúa Trời. Nếu không, đó không phải là cầu nguyện thật và không thể lay động Đức Chúa Trời để Ngài hành động. Sự cầu nguyện mà không chạm đến hoặc bày tỏ Đức Chúa Trời thì đó là sự bày tỏ của con người chứ không phải của Đức Chúa Trời. Sự cầu nguyện như vậy ra từ bản ngã, không phải ra từ Đức Chúa Trời. Hậu quả là, con người có thể cầu nguyện nhưng Đức Chúa Trời sẽ không hành động. Mặc dù con người muốn Đức Chúa Trời hành động nhưng Ngài sẽ không làm; vì vậy, cầu nguyện như thế là không hiệu quả. Nếu muốn công tác Đức Chúa Trời đi theo sự cầu nguyện của chúng ta và đáp ứng mức độ cầu nguyện của chúng ta, chúng ta phải chạm đến, hấp thụ và bày tỏ Đức Chúa Trời. Đây là cách để sự cầu nguyện của chúng ta trở nên sự bày tỏ của Đức Chúa Trời. Trong sự cầu nguyện như vậy, Đức Chúa Trời đang cầu nguyện trong chúng ta. Đây là chúng ta đồng công với Đức Chúa Trời, tức là chúng ta cùng công tác với Đức Chúa Trời. Khi đó, mức độ cầu nguyện của chúng ta là mức độ công tác của Đức Chúa Trời. Vì vậy, trong sự cầu nguyện thật, Đức Chúa Trời đi theo con người. Sự cầu nguyện mà không khiến Đức Chúa Trời đi theo thì không phải là cầu nguyện thật và không có giá trị nhiều.

NHỮNG VÍ DỤ TRONG KINH THÁNH

Trong Ê-sai 62:6-7, Đức Giê-hô-va phán: “Hỡi Giê-ru-sa-lem, Ta đã đặt những người thức canh trên thành ngươi; cả ngày và đêm chúng nó chẳng hề im lặng. Hỡi các ngươi là kẻ nhắc nhở Đức Giê-hô-va, chớ có nghỉ ngơi chút nào. Đừng để Ngài an nghỉ cho đến chừng nào đã kiến lập và làm cho Giê-ru-sa-lem trở thành sự ngợi khen trong cả đất!” Theo những câu này, để Đức Chúa Trời làm cho Giê-ru-sa-lem trở thành sự ngợi khen, trước hết Ngài cần đặt những người thức canh để nhắc nhở Ngài về điều này cả ngày lẫn đêm. Nếu những người thức canh cầu nguyện không ngừng, họ có thể làm cho Đức Giê-hô-va hành động không ngừng. Đây là nguyên tắc: không có sự cầu nguyện của con người, Đức Chúa Trời không thể hành động. Nếu chúng ta cầu nguyện không ngừng, chúng ta sẽ làm cho Đức Chúa Trời hành động không ngừng. Đức Chúa Trời muốn làm việc, nhưng Ngài cần chúng ta cầu nguyện, đồng công và phối hợp với Ngài.

Chương 45 câu 11 chép: “Đức Giê-hô-va, Đấng Thánh của Israel, tức là Đấng đã làm nên Israel, phán như vầy: Các ngươi hãy hỏi Ta về những sự sẽ đến liên quan đến các con trai Ta, và hãy ra lệnh cho Ta về việc làm bởi tay Ta”. Thật ngạc nhiên làm sao khi chúng ta có thể ra lệnh cho Đức Chúa Trời về công việc của Ngài như thể chúng ta là chủ và Ngài là tôi tớ vậy! Thông thường mệnh lệnh của chủ đến trước và việc làm của tôi tớ theo sau. Chủ ra lệnh cho tôi tớ và tôi tớ vâng lời. Không có mệnh lệnh của chủ, tôi tớ không làm gì cả. Cũng vậy, trong sự cầu nguyện, vị trí của chúng ta là chủ động và vị trí của Đức Chúa Trời là bị động. Những lời cầu nguyện tốt là những lời cầu nguyện ra lệnh cho Đức Chúa Trời. Những lời cầu nguyện ấy vượt trên cả chuẩn mực. Đức Chúa Trời sẽ làm điều chúng ta muốn Ngài làm, và Ngài sẽ làm theo khao khát trong chúng ta hầu bày tỏ Ngài.

Đây là một nguyên tắc thuộc linh quan trọng: sự cầu nguyện của chúng ta đi trước, dẫn đường, và công tác của Đức Chúa Trời theo sau. Sự cầu nguyện của chúng ta khởi xướng, và công tác của Đức Chúa Trời hoàn thành. Cầu nguyện là hết sức quan trọng. Mục đích của cầu nguyện là đồng công với Đức Chúa Trời, tức là phối hợp với công tác của Đức Chúa Trời để khởi xướng cho những gì Ngài hoàn thành. Chúng ta cầu nguyện và Đức Chúa Trời hoàn thành. Chúng ta cầu nguyện là ra lệnh cho Đức Chúa Trời, truyền lệnh cho Ngài, và Ngài hoàn thành là để thực hiện mệnh lệnh của chúng ta, vâng theo lệnh truyền của chúng ta. Mức độ chúng ta ra lệnh chính là mức độ Ngài hành động.

Trong Ê-xê-chi-ên 22:30, Đức Giê-hô-va phán: “Ta đã tìm một người trong vòng chúng nó, đặng xây tường thành, vì đất mà đứng chỗ sứt mẻ trước mặt Ta, hầu cho Ta không hủy diệt nó; song Ta chẳng tìm được một ai”. Điều này cho thấy Đức Chúa Trời muốn cứu con cái Israel ra khỏi cảnh hoang vu của họ, nhưng Ngài không có cách nào để hành động bởi vì Ngài không tìm thấy ai giữa vòng họ cầu nguyện cho vấn đề này. Điều này có thể ví như có người thông dịch mà không có người nói. Dù cho có nhiều thánh đồ trong phòng nhóm, nếu không có người nói thì người thông dịch không thể làm gì. Đức Chúa Trời muốn cứu con cái Israel, nhưng Ngài không tìm thấy người nào trong họ đứng chỗ sứt mẻ trước mặt Ngài, tức là đứng ra thay mặt họ cầu nguyện. Đức Chúa Trời chỉ có thể hành động khi có ai đó giữa vòng con cái Ngài cầu nguyện. Ngài không thể hành động nếu không có ai cầu nguyện. Điều này cho thấy rằng công tác của Đức Chúa Trời tùy thuộc vào sự cầu nguyện của chúng ta.

Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng những lời cầu nguyện của chúng ta là nguồn để Đức Chúa Trời muốn làm một điều gì đó. Chúng ta có quan niệm sai lầm rằng Đức Chúa Trời không muốn chúc phước cho Hội thánh cho đến khi chúng ta khẩn xin điều đó. Thực ra, Đức Chúa Trời biết tình trạng của Hội thánh và muốn chúc phước cho Hội thánh, nhưng Ngài không thể, bởi vì không ai cầu nguyện, không ai đồng công với Ngài để làm người tiên phong. Ngài sẽ không bắt đầu hành động cho đến khi có ít nhất một người trỗi dậy và cầu nguyện, kêu la như một người tiên phong, một người đi đầu, trong công tác của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời muốn làm nhiều điều, nhưng chúng ta phải cầu nguyện.

Đa-ni-ên 9:2-4 chép: “Đương năm đầu về triều người, ta, Đa-ni-ên, bởi các sách biết rằng số năm mà lời Đức Giê-hô-va đã phán cùng Đấng tiên tri Giê-rê-mi, để cho trọn sự hoang vu thành Giê-ru-sa-lem, là bảy mươi năm. Ta để mặt hướng về Chúa là Đức Chúa Trời, lấy sự khẩn nguyện, nài xin, với sự kiêng ăn, mặc bao gai, đội tro mà tìm. Vậy, ta cầu nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta, và ta xưng tội cùng Ngài”. Từ Kinh văn, Đa-ni-ên đã hiểu ra ý chỉ của Đức Chúa Trời dành cho Giê-ru-sa-lem và đã cầu nguyện cho ý chỉ của Đức Chúa Trời theo Kinh văn. Đa-ni-ên biết cách cầu nguyện vì ông biết cách đến gần Đức Chúa Trời, tiếp xúc Ngài, hấp thụ Ngài và để Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài. Điều quý báu nơi Đa-ni-ên thì không liên quan đến lời tiên tri của ông mà liên quan đến khả năng cầu nguyện của ông. Ông có thể nói tiên tri vì ông biết cách cầu nguyện. Sự cầu nguyện của ông đã đụng chạm, tiếp xúc, hấp thụ và bày tỏ Đức Chúa Trời. Vì vậy, những lời cầu nguyện của ông là sự đồng công của ông đối với Đức Chúa Trời.

Đa-ni-ên là đồng công của Đức Chúa Trời trên đất. Ông quan tâm đến lòng Đức Chúa Trời và tiếp xúc Đức Chúa Trời. Ông sống trong Đức Chúa Trời và để Đức Chúa Trời sống trong ông. Đa-ni-ên là một người liên hiệp với Đức Chúa Trời. Kết quả là Đa-ni-ên có thể đồng công với Đức Chúa Trời, phối hợp với Đức Chúa Trời, và là sự bày tỏ của Đức Chúa Trời khi có bước ngoặt lớn về các sự kiện trên đất. Từ Lời Đức Chúa Trời Đa-ni-ên hiểu rằng cảnh hoang vu của con cái Israel sẽ kéo dài bảy mươi năm, và vào lúc chấm dứt bảy mươi năm, Đức Chúa Trời sẽ đem con cái Israel ra khỏi vùng đất lưu đày trở về vùng đất của Israel để họ xây dựng lại Giê-ru-sa-lem. Ông biết ý định của Đức Chúa Trời và kiêng ăn cầu nguyện cho điều đó. Ông biết Đức Chúa Trời sắp chuyển động trên đất, vì thế ông trở thành sự bày tỏ của Đức Chúa Trời để phối hợp với Đức Chúa Trời qua sự cầu nguyện. Mức độ Đa-ni-ên cầu nguyện là mức độ Đức Chúa Trời hành động. Đức Chúa Trời thực hiện điều Đa-ni-ên cầu nguyện. Sự kiện con cái Israel trở về Giê-ru-sa-lem là Đức Chúa Trời hoàn thành lời cầu nguyện của Đa-ni-ên. Sự kiện con cái Israel từ chốn lưu đày trở về là kết quả từ sự cầu nguyện của Đa-ni-ên. Do đó, lời cầu nguyện của Đa-ni-ên là đồng công với Đức Chúa Trời, mở đường cho công tác của Đức Chúa Trời, khiến Đức Chúa Trời hành động và dẫn đầu công tác của Ngài.

Tiên tri Sa-mu-ên biết rằng công tác của Đức Chúa Trời trên đất đòi hỏi phải có sự phối hợp bằng sự cầu nguyện của con người. Do đó, Sa-mu-ên nói với con cái Israel: “Còn ta đây, cũng chẳng phạm tội cùng Đức Giê-hô-va mà thôi cầu nguyện cho các ngươi” (1 Sa. 12:23). Dường như Sa-mu-ên nói rằng con cái Israel không muốn Đức Chúa Trời và chỉ còn có ông là sống cho Ngài. Sa-mu-ên là một người Na-xi-rê, tức là người luôn sống trong hiện diện của Đức Chúa Trời và hiểu lòng Ngài. Vì thế, ông là đồng công của Đức Chúa Trời trên đất. Nếu ông không cầu nguyện cho con cái Israel thì Đức Chúa Trời sẽ không cách nào hành động giữa vòng họ. Nếu Sa-mu-ên không cầu nguyện, ông sẽ gây trở ngại cho công tác của Đức Chúa Trời, đó sẽ là một tội, một sự xúc phạm đối với Đức Chúa Trời.

Sau khi đọc Xuất Ai Cập Ký, một số người nghĩ rằng Đức Chúa Trời không thích dân Israel khi họ ở Ai Cập, nhưng khi dân Israel không chịu nổi sự áp bức của người Ai Cập nữa, họ nài xin Đức Chúa Trời và làm dịu lòng Ngài; cuối cùng, Ngài đã thương xót họ và giải cứu họ ra khỏi Ai Cập. Tuy nhiên, điều này không đúng theo ký thuật trong Kinh Thánh. Xuất Ai Cập Ký 3:7 nói rằng Đức Chúa Trời biết “nỗi đau khổ của họ”. Điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời đã biết nỗi đau khổ của con cái Israel và muốn giải cứu họ, nhưng Ngài không giải cứu vì họ không nài xin Ngài giải cứu mãi cho đến Xuất Ai Cập Ký 2:23-25. Sự nài xin và cầu nguyện của họ là khởi xướng cho sự giải cứu của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời muốn giải cứu họ, nhưng Ngài cần họ nài xin Ngài và cầu nguyện. Do đó, sự cầu nguyện của họ mở đường cho công tác của Đức Chúa Trời. Ngài có thể giải cứu họ khi họ cầu nguyện.

PHỐI HỢP CẦU NGUYỆN LÀ NỀN TẢNG CỦA CÔNG TÁC ĐỨC CHÚA TRỜI

Những ví dụ trên đây trong Kinh Thánh cho thấy việc mở ra công tác của Đức Chúa Trời trên đất phụ thuộc vào sự cầu nguyện của chúng ta. Công tác của Đức Chúa Trời tương ứng với sự cầu nguyện của chúng ta, sự cầu nguyện của chúng ta đến mức nào thì công tác của Ngài sẽ đến mức nấy. Đức Chúa Trời muốn làm nhiều điều, nhưng Ngài không thể làm bất cứ điều gì nếu chúng ta không cầu nguyện. Một lần nọ, có một người biết Đức Chúa Trời nói rằng công tác của Đức Chúa Trời giống như chiếc tàu hỏa, còn những lời cầu nguyện của chúng ta giống như đường ray; hễ nơi nào đường ray được đặt thì nơi đó tàu hỏa có thể đi qua. Vì vậy, những lời cầu nguyện của chúng ta mở đường cho công tác của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, nói một cách chính xác, những lời cầu nguyện của chúng ta không chỉ mở đường cho Đức Chúa Trời mà còn là một phần trong công tác của Đức Chúa Trời. Những lời cầu nguyện của chúng ta là sự phối hợp của chúng ta với công tác của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta không cầu nguyện, Đức Chúa Trời không có đồng công để phối hợp với Ngài, và như vậy, Ngài không thể làm gì cả.

Nguyên tắc cơ bản trong công tác của Đức Chúa Trời là con người phải được hòa quyện với Đức Chúa Trời. Con người không thể tự mình làm công tác của Đức Chúa Trời mà Đức Chúa Trời cũng không thể tự Ngài công tác. Đức Chúa Trời phải được hòa quyện với con người để công tác qua con người. Trong công tác của Đức Chúa Trời, con người cầu nguyện và Đức Chúa Trời thực hiện. Nếu con người không cầu nguyện thì Đức Chúa Trời không có phương cách để thực hiện, và nếu Đức Chúa Trời không thực hiện thì con người cầu nguyện là vô ích. Khi sự cầu nguyện của chúng ta và sự thực hiện của Đức Chúa Trời phối hợp làm một, thì công tác của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn thành trên đất. Chẳng hạn, chúng ta tin rằng tại Hồng Kông, Đức Chúa Trời sẽ cứu nhiều hồn người và sẽ dấy lên nhiều người đi con đường thập tự, trở nên những người đắc thắng và duy trì chứng cớ của Ngài. Ngài cũng sẽ dấy lên một số người cho công tác của Ngài và một vài người khác làm trưởng lão để dẫn dắt Hội thánh và chăn bầy của Ngài. Các công nhân và trưởng lão sẽ phong phú trong sự sống, sáng tỏ về lẽ thật, có tầm nhìn rộng mở và thật lão luyện. Họ sẽ có trọng lượng trong những vấn đề thuộc linh, họ sẽ khôn ngoan và có khả năng trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn. Thật ra, Đức Chúa Trời muốn dấy lên những người như vậy để quản trị Hội thánh tại Hồng Kông. Nhưng Ngài phải chờ đến khi ai đó trỗi dậy và cầu nguyện cho những vấn đề này trước khi Ngài có thể thực hiện.

Hồng Kông là nơi tốt nhất để rao giảng phúc âm bởi vì dân số tập trung từ hai đến ba triệu người. Sự biến động của tình hình thế giới khiến con người không yên nghỉ và sẵn sàng cho phúc âm. Giao thông vận tải và các điều kiện xã hội ở Hồng Kông rất tiện nghi, vì thế dễ rao giảng phúc âm. Hơn nữa, bây giờ là thời điểm tốt nhất để rao giảng phúc âm. Chúng ta không nên ngạc nhiên nếu trong một năm có hai nghìn người được cứu. Cách đây nhiều năm, khi tôi đến Hồng Kông, các anh em chỉ cho tôi xem một mảnh đất làm vườn rau. Vào lúc đó, có vài ngôi nhà tranh nằm quanh mảnh đất ấy. Bây giờ có những cao ốc năm tầng xung quanh mảnh đất ấy. Về thuộc thể, Hồng Kông đã thay đổi thể nào, thì về thuộc linh, Hội thánh tại Hồng Kông cũng có thể thay đổi thể ấy. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời muốn Hội thánh ở Hồng Kông có một thay đổi như vậy, nhưng vấn đề là có ai trỗi dậy và cầu nguyện cho sự thay đổi này không. Sự thay đổi mà chúng ta khao khát là thấy hàng nghìn người được cứu thay vì mười người và sự thay đổi này là có thể. Đây cũng là điều Đức Chúa Trời khao khát. Câu hỏi đặt ra là có ai trỗi dậy và cầu nguyện cho điều này hay không. Có ai đến với Đức Chúa Trời và nhắc nhở Ngài về điều này hay không?

Đức Chúa Trời muốn Hội thánh tại Hồng Kông mạnh mẽ, đầy hiện diện và ánh sáng của Ngài, trong suốt như Giê-ru-sa-lem Mới. Đức Chúa Trời cũng muốn dấy lên các trưởng lão và chấp sự mạnh mẽ trong Hội thánh tại Hồng Kông, sự phát ngôn của họ theo Kinh Thánh sẽ đầy ánh sáng và trong suốt. Đây chính là tình trạng mà Đức Chúa Trời khao khát cho Hội thánh tại Hồng Kông. Tuy nhiên, câu hỏi vẫn là: có ai trỗi dậy và cầu nguyện cho điều này để ý định của Đức Chúa Trời được hoàn thành hay không?

Nếu một vài thánh đồ trong Hội thánh tại Hồng Kông chạm đến, tiếp xúc Đức Chúa Trời, hấp thụ Ngài, sống trong Ngài, để Ngài được bày tỏ bên trong họ, và hằng ngày cầu nguyện vào những thời giờ cố định, thì Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành lời cầu nguyện của họ. Nếu họ cầu nguyện: “Đức Chúa Trời ơi, năm nay chúng con muốn nhiều người được cứu qua phúc âm” thì Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành điều đó. Nếu họ cầu nguyện: “Đức Chúa Trời ơi, chúng con muốn Hội thánh ở Hồng Kông trong suốt, tươi sáng và đầy hiện diện của Ngài. Chúng con muốn chứng cớ và sự phụng sự của Hội thánh được mạnh mẽ”, thì Đức Chúa Trời sẽ thực hiện công tác ấy. Tuy nhiên, sự phối hợp này không thể đạt được qua những lời cầu nguyện cầu thả. Trước hết, chúng ta phải chạm đến Đức Chúa Trời, hấp thụ Ngài và để Ngài bày tỏ từ bên trong chúng ta. Khi đó, sự cầu nguyện của chúng ta mới có thể đem đến công tác của Đức Chúa Trời.

Những người mà các thánh đồ này nêu lên trong sự cầu nguyện sẽ không thoát khỏi bàn tay của Đức Chúa Trời. Các thánh đồ có thể cảm thấy một anh em trẻ nên dành trọn bản thể và cuộc đời anh cho công tác của Đức Chúa Trời. Mặc dù họ không nói nhiều với anh em ấy nhưng họ sẽ đề cập đến tên anh trong sự cầu nguyện, và kết quả là anh ấy sẽ không thoát khỏi bàn tay của Đức Chúa Trời. Ngày qua ngày, bàn tay của Đức Chúa Trời sẽ như những dây nhân tình và xích yêu thương trên anh em trẻ ấy, dẫn dắt anh dâng mình trên bàn thờ cho Đức Chúa Trời và được Đức Chúa Trời đoạt lấy (đc. Ô-sê 11:4). Sau đó, dần dần anh em ấy sẽ trở thành một sấm ngôn mạnh mẽ, một người thích hợp để cung ứng lời của Đức Chúa Trời, và là một cột trụ để nâng đỡ chứng cớ và sự phụng sự của Hội thánh. Đây là kết quả từ sự cầu nguyện của một nhóm thánh đồ.

Có nhiều thánh đồ thường cầu nguyện cho tôi. Tôi thật sự tin rằng bông trái của công tác là kết quả từ sự cầu nguyện của họ; Đức Chúa Trời hoàn thành và đáp lời cầu nguyện của họ. Tôi cũng tin rằng qua sự cầu nguyện ấy, bàn tay của Đức Chúa Trời đã giữ vững và nâng đỡ tôi, giúp tôi không bị thất bại bởi sự yếu đuối hay lầm lạc. Sự thương xót và ân điển đa dạng của Đức Chúa Trời được tỏ ra trong tôi là kết quả từ những lời cầu nguyện của các thánh đồ.

Những ai yêu mến Đức Chúa Trời phải thấy rằng mục đích của cầu nguyện là chạm đến Đức Chúa Trời, phối hợp với Ngài và là đồng công của Ngài. Chúng ta trở thành đồng công của Đức Chúa Trời, phối hợp với Ngài bằng cách chạm đến Ngài, hấp thụ Ngài và để Ngài được bày tỏ. Khi đó, Đức Chúa Trời sẽ quan tâm tới bất cứ điều gì chúng ta đem đến, Ngài sẽ đáp ứng những gì chúng ta yêu cầu, và mức độ cầu nguyện của chúng ta sẽ là mức độ hành động của Ngài. Điều này áp dụng cho công tác của Đức Chúa Trời trong Hội thánh, trên những người xung quanh chúng ta, và trong các thánh đồ.

Nếu chúng ta không cầu nguyện cho tình trạng của mình, Đức Chúa Trời sẽ không hành động trong chúng ta. Chẳng hạn, có thể một chị em đầy xác thịt, nhưng nếu chị không cầu nguyện cho điều này, Đức Chúa Trời sẽ không làm gì cả. Mãi đến khi chị đến gần Đức Chúa Trời trong sự tương giao và hấp thụ Đức Chúa Trời, được Ngài chạm đến để phơi bày xác thịt của chị qua hoàn cảnh, thì chị mới cầu nguyện cho tình trạng xác thịt của mình. Khi ấy, Đức Chúa Trời có thể bắt đầu hành động trong chị. Từ lúc đó, Ngài sẽ xử lý xác thịt của chị và giải cứu chị. Như vậy, chúng ta cần thấy rằng chúng ta là đồng công của Đức Chúa Trời để phối hợp với Ngài trong những vấn đề liên quan đến người khác và chính chúng ta. Trong những vấn đề như vậy, Đức Chúa Trời sẽ hành động theo sự cầu nguyện của chúng ta.

Là những người đang học tập cầu nguyện, chúng ta phải luyện tập cho đến khi chạm đến Đức Chúa Trời, bày tỏ Ngài và phối hợp với Ngài như những đồng công của Ngài. Khi đó, lời cầu nguyện của chúng ta sẽ trở thành lời tiên tri cho những gì Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành. Đức Chúa Trời sẽ thực hiện bất cứ điều gì chúng ta cầu xin, và Ngài sẽ hành động theo sự cầu nguyện của chúng ta. Thật vinh hiển khi được là những người như vậy trên đất, tức là những người ra lệnh cho Đức Chúa Trời! Những người như vậy thật vinh hiển và cao trọng.

Đức Chúa Trời đặt chúng ta trong một vị trí cao như vậy qua sự liên hiệp của Ngài đối với chúng ta. Nếu học tập cầu nguyện theo cách này, chúng ta sẽ được đổ đầy Đức Chúa Trời bên trong. Chúng ta sẽ là những người tiếp xúc Đức Chúa Trời và có sự tương giao với Ngài. Chúng ta sẽ chạm đến Đức Chúa Trời, để Ngài đạt được chúng ta và để Ngài được bày tỏ trong chúng ta. Đây là ý nghĩa của một người cầu nguyện, tức một người đồng công với Đức Chúa Trời, người mà những lời cầu nguyện của họ đều ở trong sự phối hợp với Đức Chúa Trời. Đây là mục đích của sự cầu nguyện và vị trí mà sự cầu nguyện đem chúng ta vào.