Thông tin sách

Sự Chắc Chắn - Bảo Đảm Và Vui Mừng Của Sự Cứu Rỗi

Tác giả: Witness Lee
Dịch từ bản tiếng Anh: The Assurance, Security, and Joy of Salvation
ISBN: 1-57593-981-9
Mua sách tại:

Untitled Document

SỰ CHẮC CHẮN, BẢO ĐẢM VÀ VUI MỪNG CỦA SỰ CỨU RỖI SỰ CHẮC CHẮN CỦA SỰ CỨU RỖI

Nếu vừa tiếp nhận Chúa cách đây không lâu, có lẽ đôi khi anh em nghi ngờ là kinh nghiệm ấy không thật, tức anh em thắc mắc không biết mình đã thực sự được cứu chưa. Không có sự chắc chắn thật về sự cứu rỗi làm nền tảng vững chắc, một Cơ Đốc nhân mới khó mà tăng trưởng và kinh nghiệm những điều sâu xa hơn của đời sống Cơ Đốc. Tuy nhiên, Kinh Thánh nói rằng anh em có thể hoàn toàn biết chắc mình là một người đã được cứu. Làm sao có thể như vậy được? Chúng ta hãy đọc 1 Giăng 5:13: Tôi đã viết những điều này cho anh em là kẻ tin đến danh Con Đức Chúa Trời, hầu cho anh em biết mình có sự sống đời đời. Đây không phải là “hầu cho anh em nghĩ”, cũng không phải là “hầu cho anh em hi vọng”, mà là “hầu cho anh em biết”. Chúng ta không cần đợi đến khi qua đời rồi mới biết; sự chắc chắn này là để chúng ta vui hưởng ngày nay.

Làm sao chúng ta có thể chắc chắn về sự cứu rỗi? Có ba cách:

Đức Chúa Trời Nói Như Vậy

Cách thứ nhất để chúng ta chắc chắn về sự cứu rỗi là Lời Đức Chúa Trời. Trong khi lời của loài người có thể không đáng tin cậy, Lời của Đức Chúa Trời thì lúc nào cũng chắc chắn và vững bền. Đức Chúa Trời không thể nào nói dối (Hê. 6:18; Dân. 23:19). Điều gì Đức Chúa Trời nói cũng vững chắc đời đời (Thi. 119:89). Những gì Đức Chúa Trời đã nói không phải là vấn đề phỏng đoán. Lời Ngài không mơ hồ, cũng không trừu tượng. Ngày nay Lời ấy đến với chúng ta ở dạng chữ viết, tức Kinh Thánh. Kinh Thánh chính là Lời của Đức Chúa Trời, được Ngài hà hơi (2 Ti. 3:16). Chúng ta có thể nhận lấy Lời ấy, tin nơi Lời ấy, và trông cậy vào Lời ấy.

Vậy, Đức Chúa Trời nói gì về sự cứu rỗi? Ngài nói rằng phương cách cứu rỗi là một thân vị, Jesus Christ (Gi. 3:16; 14:6; Công. 10:43; 16:31). Ngài nói rằng người nào tin Jesus Christ đã sống lại từ kẻ chết và thừa nhận bằng môi miệng Jesus là Chúa đều được cứu. Ngài nói rằng hễ ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu (La. 10:9-13).

Anh em đã thực hiện điều này chưa? Anh em đã tin nơi Đấng Christ và công khai thừa nhận Ngài là Chúa của mình chưa? Anh em đã kêu cầu danh Ngài chưa? Nếu đã làm những điều ấy, thì anh em thực sự được cứu. Vì Đức Chúa Trời đã nói như vậy, nên vấn đề được giải quyết ổn thỏa.

Thánh Linh Làm Chứng

Không những chúng ta có Lời Đức Chúa Trời ở bên ngoài cho biết chúng ta đã được cứu, mà chúng ta còn có một nhân chứng ở bên trong cho biết như vậy. Điều Kinh Thánh nói với chúng ta ở bên ngoài thì Thánh Linh xác nhận điều ấy ở bên trong. 1 Giăng 5:10 chép: “Ai tin Con Đức Chúa Trời thì có chứng cớ trong mình”.

Có những lúc, sau khi đã tiếp nhận Đấng Christ, chúng ta không cảm thấy mình được cứu. Tuy nhiên, nếu xem xét phần sâu xa nhất của bản thể chúng ta, tức linh chúng ta, thì chúng ta sẽ nhận thấy một chứng cớ ở bên trong, một sự chắc chắn, cho biết chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. “Chính Thánh Linh cùng tâm linh chúng ta đồng chứng rằng chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời” (La. 8:16). Nếu anh em nghi ngờ sự kiện mình có chứng cớ của Thánh Linh ở bên trong, hãy thử thí nghiệm đơn giản là dạn dĩ tuyên bố: “Tôi không phải là con cái Đức Chúa Trời!” Thậm chí nói thầm điều sai lầm này, anh em cũng thấy rất khó khăn. Tại sao vậy? Đó là vì Thánh Linh ở trong anh em làm chứng: “Anh em là con cái của Đức Chúa Trời!”

Việc Chúng Ta Yêu Thương Các Anh Em Là Bằng Chứng

Cách thứ ba để chúng ta chắc chắn về sự cứu rỗi là việc chúng ta yêu thương các anh chị em khác trong Đấng Christ. 1 Giăng 3:14 chép: “Chúng ta sở dĩ biết rằng chúng ta đã vượt khỏi sự chết mà vào sự sống là vì chúng ta thương yêu anh em”. Một người được cứu chắc chắn cảm thấy yêu thương những người được cứu khác. Anh em cảm thấy muốn cùng tương giao, cùng vui hưởng Đấng Christ với những người khác. Đó là kết quả tự phát do được cứu, và là một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy một người đã được cứu. Tình yêu này trỗi hơn “tình yêu” rẻ tiền, ích kỷ của thời đại này. Đây là một tình yêu không thiên vị, yêu thương cả những người giống mình lẫn những người khác mình. Đây là sự hiệp một và hòa hợp thật mà thế gian mong muốn. Thế nhưng điều đó thuộc về chúng ta khi chúng ta tiếp nhận Đấng Christ. “Kìa, anh em ăn ở hòa thuận nhau; thật tốt đẹp thay!” (Thi. 133:1). Đó là chứng cớ của một người được cứu.

Nhờ ba nhân chứng là Lời Đức Chúa Trời, chứng cớ bên trong của Linh và tình yêu của chúng ta đối với các anh em, chúng ta có thể biết và tin chắc rằng mình thực sự đã được cứu.

SỰ BẢO ĐẢM CỦA SỰ CỨU RỖI

Sau khi chắc chắn là mình thực sự đã được cứu, một Cơ Đốc nhân có thể nghĩ rằng: “Hôm nay tôi biết mình đã được cứu, nhưng ngày mai làm sao tôi biết mình sẽ được cứu? Tôi có thể mất đi sự cứu rỗi của mình không?” Đối với một người như vậy, vấn đề không còn là sự chắc chắn, mà là sự bảo đảm.

Một người có hàng triệu đô-la trong ngân hàng biết chắc rằng mình giàu có. Nhưng nếu ngân hàng nhất định không chịu khóa hầm két, thì người bạn giàu có của chúng ta sẽ không thật được bảo đảm về tài sản của mình. Người ấy biết hôm nay mình giàu có, nhưng không biết ngày mai sẽ ra sao.

Phải chăng sự cứu rỗi của chúng ta giống như vậy? Phải chăng đó là điều chúng ta có ngày nay nhưng có thể bị mất bất cứ lúc nào? Câu trả lời dứt khoát là không. Chúng ta có thể dạn dĩ nói: “Ta biết rằng mọi việc Đức Chúa Trời làm nên còn có đời đời” (Truyền. 3:14).

Một sự kiện kỳ diệu về sự cứu rỗi của chúng ta trong Đấng Christ là sự cứu rỗi ấy không thể đảo ngược, tức không thể xóa bỏ. Một khi được cứu, thì chúng ta được cứu mãi mãi vì sự cứu rỗi của chúng ta đặt nền tảng trên bản chất và thân vị của chính Đức Chúa Trời.

Sự Cứu Rỗi Đã Được Đức Chúa Trời Khởi Xướng

Jesus nói với các môn đồ Ngài rằng: “Chẳng phải các ngươi đã lựa chọn Ta, bèn là Ta đã lựa chọn và lập các ngươi” (Gi. 15:16). Nói cách khác, sự cứu rỗi là ý kiến của Đức Chúa Trời, chứ không phải của chúng ta. Trong cõi đời đời quá khứ, chúng ta đã được Ngài chọn và tiền định (chỉ định) (Êph. 1:4-5). Hơn nữa, chính Ngài đã kêu gọi chúng ta (La. 8:29-30). Vì kế hoạch của Đức Chúa Trời chính là để cứu chúng ta, nên kế hoạch của Ngài cũng là gìn giữ chúng ta trong sự cứu rỗi ấy. Có thể nào Đức Chúa Trời lựa chọn chúng ta, chỉ định chúng ta, kêu gọi chúng ta vào sự cứu rỗi và sau đó bỏ rơi chúng ta không? Không, sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là đời đời.

Tình Yêu Và Ân Điển Của Đức Chúa Trời Là Đời Đời

Hơn nữa, tình yêu và ân điển của Đức Chúa Trời đối với chúng ta là vô điều kiện và không có tính cách tạm thời. Không phải nhờ chúng ta yêu Ngài mà được cứu, mà là nhờ Ngài yêu chúng ta (1 Gi. 4:10). Ngài yêu chúng ta bằng một tình yêu đời đời (Giê. 31:3). Ân điển của Ngài dành cho chúng ta trong cõi đời đời quá khứ, trước khi tạo lập thế giới (2 Ti. 1:9). Khi Đấng Christ yêu thương chúng ta, Ngài yêu thương chúng ta đến cùng (Gi. 13:1). Không tội lỗi, thất bại hay sự yếu đuối nào của chúng ta có thể phân rẽ chúng ta với tình yêu của Đức Chúa Trời là điều ở trong Christ Jesus (La. 8:35-39).

Đức Chúa Trời Là Công Chính

Nhưng sự cứu rỗi của chúng ta không những dựa trên tình yêu và ân điển của Đức Chúa Trời, mà hơn nữa còn dựa trên sự công chính của Ngài. Đức Chúa Trời của chúng ta là Đấng công chính. Sự công chính và công lý là nền tảng của ngai Ngài (Thi. 89:14). Nếu Đức Chúa Trời không công chính, thì ngai Ngài sẽ mất đi nền tảng của nó. Vì vậy, nếu sự cứu rỗi của chúng ta có chút gì liên quan đến sự công chính của Đức Chúa Trời, thì sự cứu rỗi ấy thực sự rất vững bền.

Giả sử, anh em vượt đèn đỏ và bị phạt hai mươi lăm đô-la. Hai mươi lăm đô-la là tiền phạt công chính, và luật của xứ sở đòi hỏi anh em phải trả số tiền ấy. Nếu vị quan tòa dân sự bỏ qua vi phạm của anh em và miễn cho anh em trả tiền phạt, thì quan tòa ấy không công chính. Vấn đề không phải là quan tòa ấy có yêu thương anh em hay không; pháp luật buộc ông phải nhận tiền phạt.

Cũng vậy, trước khi chúng ta được cứu, nan đề của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời là một vấn đề có tính cách pháp lý. Vì phạm tội nên chúng ta đã vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời và phải chịu sự phán xét công chính của luật pháp. Theo luật pháp của Đức Chúa Trời, ở đâu có sự vi phạm luật pháp, ở đó có sự chết (La. 6:23; Êxc. 18:4). Đây không phải là vấn đề Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta, bỏ qua các tội lỗi của chúng ta, và quên đi sự phán xét của luật pháp. Nếu Đức Chúa Trời làm như vậy, thì ngai Ngài sẽ sụp đổ. Đức Chúa Trời bị luật pháp của Ngài buộc phải phán xét tội. Ngài có thể làm gì?

Vì Đức Chúa Trời muốn cứu chúng ta và vì chúng ta không thể tự mình trả món nợ tội lỗi, nên trong sự thương xót Ngài quyết định tự mình thực hiện việc ấy. Hai ngàn năm trước, Jesus Christ là Đức Chúa Trời nhập thể đã đến chết trên thập tự giá để trả món nợ tội lỗi của chúng ta. Chính Ngài không có tội lỗi, cho nên chỉ Ngài mới có đủ điều kiện chết cái chết thay thế ấy. Sự chết của Ngài được Đức Chúa Trời kể là sự chết của chúng ta và được Đức Chúa Trời chấp nhận, và Đức Chúa Trời đã làm cho Ngài sống lại từ kẻ chết. Bây giờ, khi chúng ta tin nơi Đấng Christ, thì theo mắt Đức Chúa Trời, sự chết của Ngài được kể là sự chết của chúng ta. Nhờ đó, món nợ tội lỗi của chúng ta được trả một cách công chính, và chúng ta được cứu.

Bây giờ, Đức Chúa Trời có thể lấy lại sự cứu rỗi mà Đấng Christ đã mua không? Dứt khoát là không! Vì món nợ đã được trả, nên Đức Chúa Trời mà đòi nợ chúng ta nữa thì không công chính. Cùng một sự công chính trước đây buộc chúng ta phải chịu định tội bây giờ đòi hỏi chúng ta phải được xưng công chính. Đây thật là sự bảo đảm mạnh mẽ cho sự cứu rỗi của chúng ta! Thậm chí một quan tòa thế gian cũng không yêu cầu trả tiền phạt hai lần. Đức Chúa Trời là nguồn của mọi công lý và sự công chính chắc chắn không thể làm như vậy. Watchman Nee đã viết một bài thánh ca có đoạn như sau:

>

Vì tôi Ngài đã giành được sự tha tội,

Và cũng giành được sự tha bổng hoàn toàn,

Mọi món nợ tội đều được thanh toán;

Đức Chúa Trời không đòi hai bên phải trả,

Trước hết đòi nơi Con Ngài, Đấng bảo đảm thật của tôi,

Và sau đó lại đòi nơi tôi.

Do đó, Kinh Thánh tuyên bố rằng khi Đức Chúa Trời cứu chúng ta, Ngài bày tỏ sự công chính của Ngài (La. 1:16-17; 3:25-26).

Chúng Ta Đã Trở Nên Con Cái Của Đức Chúa Trời

Khi được cứu, chúng ta không những nhận được điều gì đó mà còn trở nên điều gì đó. Chúng ta trở nên con cái của Đức Chúa Trời, được sinh bởi sự sống đời đời của Ngài (Gi. 1:12-13). Một người cha có thể lấy lại món quà đã cho con mình, nhưng không bao giờ có thể lấy lại sự sống con người mà người cha đã truyền cho con. Người con tuy có thể ngỗ nghịch, nhưng vẫn là con của cha. Cũng vậy, chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Mặc dầu chúng ta có thể có nhiều nhược điểm và cần được Ngài sửa trị, nhưng những tội lỗi và nhược điểm của chúng ta không thể thay đổi sự kiện chúng ta là con cái của Ngài. Sự sống mà chúng ta nhận được qua lần sinh thứ hai của mình là sự sống đời đời, sự sống bất diệt, sự sống của Đức Chúa Trời, sự sống không bao giờ có thể chết. Một khi đã được sinh lại, thì chúng ta không bao giờ có thể trở lại tình trạng chưa được sinh.

Đức Chúa Trời Mạnh Mẽ

Một lý do nữa bảo đảm cho sự cứu rỗi của chúng ta là sức mạnh của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không chịu để bất cứ điều gì hay bất cứ người nào đoạt lấy chúng ta khỏi tay Ngài. Jesus nói: “Ta ban cho nó sự sống đời đời, nó hẳn chẳng hư mất bao giờ, chẳng ai giựt nó khỏi tay Ta. Cha Ta... vốn lớn hơn hết, chẳng ai có thể giựt nó khỏi tay Cha Ta” (Gi. 10:28-29). Tay Cha và tay Chúa Jesus là hai bàn tay mạnh mẽ giữ chặt lấy chúng ta. Dầu chúng ta có cố gắng chạy trốn khỏi Cha mình cũng không thể được. Ngài không những mạnh mẽ hơn Sa-tan, mà còn mạnh mẽ hơn chúng ta.

Đức Chúa Trời Không Bao Giờ Thay Đổi

Nếu chúng ta có thể mất đi sự cứu rỗi của mình, thì nhiều người chúng ta đã mất sự cứu rỗi từ lâu rồi. Loài người chúng ta trải qua nhiều thay đổi. Chúng ta nóng lạnh thất thường. Nhưng sự cứu rỗi của chúng ta không dựa trên các cảm xúc thất thường của chúng ta. Sự cứu rỗi châm rễ và lập nền trong Đức Chúa Trời, tức Đấng bất biến trong tình yêu và sự thành tín của Ngài đối với chúng ta (Mal. 3:6). Gia-cơ 1:17 chép: “Cha của cả sự sáng... trong Ngài chẳng có sự biến cải, cũng chẳng có bóng dời đổi”. Ca Thương 3:22-23 chép: “Vì sự thương xót Ngài chẳng dứt; mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm”. Nếu Ngài yêu thương chúng ta đến độ cứu chúng ta, thì chắc chắn Ngài cũng yêu thương chúng ta đến độ gìn giữ chúng ta trong sự cứu rỗi ấy. Sự thành tín của Ngài lớn lao dường nào!

Đấng Christ Đã Hứa Cuối cùng, chính Đấng Christ đã hứa giữ gìn chúng ta, nâng đỡ chúng ta, và không bao giờ lìa bỏ chúng ta. Mặc dầu loài người thường không công chính trong việc giữ lời hứa, nhưng Đấng Christ thì không bao giờ thất hứa. Ngài đã hứa rằng: “Kẻ đến cùng Ta thì Ta hẳn chẳng bỏ ra ngoài đâu” (Gi. 6:37); “Ta hẳn chẳng lìa ngươi, cũng hẳn chẳng bỏ ngươi đâu” (Hê. 13:5). Những lời Chúa hứa tại đây thì vô điều kiện. “Hẳn chẳng”, tức dầu hoàn cảnh có ra sao, Ngài không bao giờ bỏ chúng ta ra ngoài hay ngưng gìn giữ chúng ta. Đây là lời hứa thành tín của Ngài.

Đây thật là sự bảo đảm mạnh mẽ cho sự cứu rỗi của chúng ta! Chúng ta có sự tuyển chọn, sự tiền định, sự kêu gọi, tình yêu, ân điển, sự công chính, sự sống, sức mạnh, sự thành tín bất biến, và lời hứa của Đức Chúa Trời làm nền tảng và làm sự bảo đảm cho sự cứu rỗi của chúng ta. Tất cả chúng ta có thể cùng tuyên bố với Phao-lô rằng: “Ta biết Đấng mà Ta đã tin rồi, cũng tin chắc rằng Ngài có thể giữ sự Ta đã phó thác cho Ngài đến ngày đó” (2 Ti. 1:12).

SỰ VUI MỪNG CỦA SỰ CỨU RỖI

Chúng ta đã thấy sự chắc chắn của sự cứu rỗi của mình, tức làm sao chúng ta biết mình đã được cứu. Chúng ta cũng đã thấy sự bảo đảm của sự cứu rỗi của mình, tức là chúng ta không bao giờ có thể mất sự cứu rỗi. Nhưng như vậy đủ chưa? Đáng tiếc là nhiều Cơ Đốc nhân thỏa mãn với chỉ bấy nhiêu, tức là có sự cứu rỗi, nhưng không vui mừng hay vui hưởng sự cứu rỗi ấy được bao nhiêu.

Người bạn triệu phú của chúng ta có thể chắc chắn là mình giàu có, và được bảo đảm là tiền gửi ngân hàng thì an toàn. Nhưng nếu người ấy chưa từng tiêu một xu nào và bằng lòng sống trong cảnh nghèo túng, thì chúng ta không thể nói người ấy vui hưởng tài sản của mình. Về mặt khách quan, người ấy giàu có, nhưng theo kinh nghiệm thực tiễn, người ấy không có gì. Đây là tình trạng của nhiều Cơ Đốc nhân ngày nay. Họ đã được cứu, nhưng hằng ngày không kinh nghiệm bao nhiêu về sự phong phú không dò lường được của Đấng Christ (Êph. 3:8). Tuy nhiên, ý định của Đức Chúa Trời là chúng ta không những có Đấng Christ, mà còn vui hưởng Ngài, thậm chí đến tột bậc (Gi. 10:10; Phil. 4:4). Tình trạng bình thường của một Cơ Đốc nhân là “lấy sự vui vẻ không thể nói được và đầy vinh hiển mà mừng rỡ cả thể” (1 Phi. 1:8).

Nhưng hầu như ai trong chúng ta cũng nhìn nhận rằng có những lúc, thậm chí nhiều lúc, chúng ta không tuôn tràn niềm vui như vậy. Phải chăng tình trạng đó có nghĩa là chúng ta đã mất sự cứu rỗi của mình? Dứt khoát là không! Sự cứu rỗi của chúng ta đặt nền tảng trên Đức Chúa Trời, chứ không trên chúng ta. Chúng ta tuy không thể mất sự cứu rỗi của mình, nhưng có thể mất sự vui mừng của sự cứu rỗi ấy.

Mất Sự Vui Mừng

Vậy, những điều khiến chúng ta mất đi sự vui mừng của mình là gì? Điều thứ nhất là tội lỗi. Sự vui mừng tùy thuộc vào việc chúng ta liên tục tương giao với Đức Chúa Trời, nhưng tội lỗi phân rẽ chúng ta với Ngài và khiến Ngài ẩn mặt (Ês. 59:1-2). Điều thứ hai là làm buồn Thánh Linh (Êph. 4:30). Khi được cứu, chúng ta trở nên đền thờ của Đức Chúa Trời và có Linh của Ngài cư ngụ trong chúng ta (1 Cô. 6:17, 19; La. 8:9, 11, 16). Linh này không phải là một “sức mạnh” hay một “vật thể”, mà là một thân vị sống động, tức chính Jesus Christ (1 Cô. 15:45; 2 Cô. 3:17; 13:5). Như mọi người sống, Ngài có cảm xúc và thái độ. Do đó, khi chúng ta nói hay làm những gì trái với ý Ngài, thì Ngài buồn lòng bên trong chúng ta. Khi Thánh Linh buồn lòng, thì linh chúng ta là phần kết hiệp với Ngài (1 Cô. 6:17) cũng buồn lòng, và chúng ta mất sự vui mừng của mình.

Duy Trì Sự Vui Mừng

Sự cứu rỗi của chúng ta giống như một tảng đá bất di bất dịch, còn sự vui mừng của sự cứu rỗi ấy thì giống như một đóa hoa mong manh, chỉ một làn gió nhẹ cũng đủ làm cho nó rung động. Vì vậy, sự vui mừng là điều chúng ta phải vun trồng và nuôi dưỡng. Vậy chúng ta có thể làm gì để duy trì sự vui mừng này? Trước hết, chúng ta có thể xưng nhận những tội lỗi của mình (1 Gi. 1:7, 9). Khi chúng ta xưng nhận những vi phạm của mình với Chúa, thì huyết Ngài rửa sạch chúng ta, và mối tương giao của chúng ta với Ngài được phục hồi. Sau khi Đa-vít phạm tội, ông cầu nguyện rằng: “Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa” (Thi. 51:12). Không cần phải chờ đợi. Huyết báu của Đấng Christ rửa sạch mọi tội lỗi khỏi chúng ta. Thứ hai, chúng ta có thể nhận lấy Lời Đức Chúa Trời làm thức ăn của mình. Giê-rê-mi nói: “Tôi vừa nghe những lời Ngài, thì đã ăn lấy rồi; lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy” (Giê. 15:16). Chúng ta thường thấy rằng sau khi đọc Lời Chúa và cầu nguyện bằng Lời ấy, thì lòng chúng ta tràn ngập niềm vui. Không một người đói khát nào hạnh phúc. Cũng vậy, chúng ta không nên tiếp tục làm những Cơ Đốc nhân đói khát. Chúng ta cần phải liên tục ăn uống và dự tiệc nơi Lời Đức Chúa Trời (Mat. 4:4).

Thứ ba, chúng ta có thể cầu nguyện. Thông thường, sau khi mở lòng mình ra và nói chuyện với Chúa, chúng ta cảm nhận một sự vui mừng và tươi mới sâu xa. Ê-sai 56:7 nói Ngài sẽ khiến chúng ta vui mừng trong nhà cầu nguyện của Ngài. Sự cầu nguyện thật không phải là lặp lại những từ ngữ và những câu nói quen thuộc, mà là dốc đổ lòng và linh của mình ra với Ngài. Jesus nói: “Hãy xin thì sẽ được, hầu cho sự vui mừng các ngươi được đầy đủ” (Gi. 16:24). Sự cầu nguyện thật đem đến cảm giác tuôn đổ và vui mừng.

Cuối cùng, chúng ta có thể tương giao. Niềm vui lớn nhất của một Cơ Đốc nhân là quây quần với những người yêu mến và vui hưởng Đấng Christ. Không lời diễn đạt nào của loài người có thể mô tả sự ngọt ngào mà chúng ta kinh nghiệm khi cùng nhau ngợi khen và chia sẻ về Ngài. 1 Giăng 1:3-4 chép: “Hầu cho anh em cũng được tương giao với chúng tôi. Thật, chúng tôi vẫn được tương giao với Cha và với Con Ngài là Jesus Christ. Chúng tôi viết những điều này hầu cho sự vui mừng của anh em được đầy đủ”. Sự tương giao thật không phải là một bổn phận, mà là một niềm vui – sự vui mừng lớn nhất trên đất.

Vậy, chúng ta có sự chắc chắn, bảo đảm và vui mừng của sự cứu rỗi của mình. Ngợi khen Ngài về một sự cứu rỗi trọn vẹn như vậy!